Monday, 27/01/2020 - 08:07|
Cổng thông tin điện tử trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú THCS huyện Lục Yên
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên

Sáng kiến kinh nghiệm

Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên

- Tác giả: Trần Đình Vũ

- Chức vụ: Hiệu trưởng

- Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS huyện Lục Yên

 

Content

 

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chän ®Ò tµi

Trong thời đại công nghệ 4.0 đã làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Đó là những cơ hội và cũng là những thách thức lớn cho mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem là một trong những nhân tố quyết định tương lai của các dân tộc. Điều đó đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại. Hầu hết các nước trên thế giới đã và đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách năng động, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu phát triển đất nước.

Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về “ Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”  đã chỉ rõ  “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”

Chất lượng giáo dục là vấn đề quan trọng hàng đầu của hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục, quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục không tốt thì mục tiêu giáo dục không đạt được. Trong thời gian gần đây, chất lượng giáo dục đã được sự quan tâm, chú ý của mọi người trong xã hội. Giáo dục ngày càng phát triển cả qui mô, phương thức giáo dục và mạng lưới các cơ sở giáo dục. Để nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo thì công tác quản lí đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường.

Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS huyện Lục Yên là trường Chuyên biệt. Được thành lập ngày 13 tháng 7 năm 1996 Theo Quyết định số 274/QĐ-UBND của Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái. Trong quá trình xây dựng và trưởng thành mặc dù còn non trẻ nhưng nhà trường đã thu được nhiều kết quả đáng tự hào: nhiều năm được danh hiệu “ Tập thể lao động Xuất sắc, Năm 2012 được UBND tỉnh Yên Bái quyết định công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia. Nhà trường là địa chỉ đáng tin cậy trong công tác Đào tạo nguồn nhân tài trẻ tuổi cho địa phương, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Tuy nhiên để đáp ứng yêu cầu “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo” theo tinh thần( Nghị quyết Số 29-NQ/TW) nhà trường cũng có những bất cập trong quản lý chất giáo dục đào tạo như:

- Trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ quản lý, nhất là đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo toàn diện học sinh trong nhà trường.

- Cơ sở vật chất xuống cấp và trong tình trạng chắp vá, sửa chữa, sử dụng tạm thời; các trang thiết bị, phương tiện dạy học hiện đại còn hạn chế, chưa thực sự phát huy tối đa sự năng động, sáng tạo trong giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh.

- Nếp dạy và học của nhà trường vẫn còn sức ỳ, ảnh hưởng không nhỏ tới nhận thức, lề lối làm việc, học tập của cán bộ và  HS nhà trường.

- Tình trạng học lệch, học thực dụng của học sinh khiến sự đầu tư theo lối thực dụng của cha mẹ học sinh còn quá sâu sắc.

Xuất phát từ thực tiễn công tác, tôi thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường PTDTNT THCS  nói chung và trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên nói riêng nhằm rút kinh nghiệm góp phần đề ra các biện pháp quản lý dạy học đồng bộ, có tính khả thi cao, để vừa phù hợp với xu thế phát triển của xã hội, vừa đáp ứng được mục tiêu Giáo dục - Đào tạo mà huyện, ngành đặt ra đối với nhà trường.

          Lựa chọn và nghiên cứu Sáng kiến: “Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên” bản thân tôi mong muốn tìm hiểu sâu hơn một số vấn đề lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đặc thù ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý hoạt động dạy học của nhà trường cũng như chất lượng Giáo dục - Đào tạo học sinh vùng dân tộc thiểu số trong các trường PTDTNT THCS  trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

2.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN: Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện và triển khai từ tháng 9/2016  đến tháng 12/2018.

TT

Thời gian

Nội dung công việc

Sản phẩm

1

 

Từ  9/ 2016

đến 10/2017

Chọn đề tài, viết đề cương nghiên cứu

Bản đề cương chi tiết

2

 

Từ 6/ 2017

 đến 10/2017

Nghiên cứu tài liệu; Khảo sát thực trạng, tổng hợp số liệu thực tế.

Số liệu khảo sát đã xử lý

3

   

Từ 11/2017

 đến 5/2018

 

Trao đổi với đồng nghiệp đề xuất các biện pháp sáng kiến. Tổ chức áp dụng thử nghiệm

- Tập hợp ý kiến đóng góp của đồng nghiệp

- Hoạt động cụ thể

4

Từ 5/2018

đến 12/2018

- Hệ thống hóa tài liệu, viết báo cáo

- Hoàn thiện báo cáo

- Bản dự thảo

- Bản chính thức

 

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lí luận về công tác quản lý hoạt động giáo dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở.

1.1. Những khái niệm cơ bản của SKKN.

1.1.1. Khái niệm Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường

Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Người quản lý cần phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục. Khái niệm "Quản lý giáo dục", chủ yếu có hai cấp độ: Cấp vĩ mô và cấp vi mô.

- Đối với cấp vĩ mô: Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác,...) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như của các qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên.

- Đối với cấp vi mô: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy – Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của Hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở.

Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

 Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh.

Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh) và quản lý các nguồn lực cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục của nhà trường. Do đó, có thể hiểu quản lý trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Tiêu điểm là thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn.

1.1.2.Khái niệm về biện pháp quản lý họat động dạy học

* Dạy học

Dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm, với nội dung khoa học, được thực hiện theo một phương pháp sư phạm đặc biệt, do nhà trường tổ chức, thầy giáo thực hiện nhằm giúp học sinh nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và hình thành hệ thống kỹ năng hoạt động, nâng cao trình độ học vấn, phát triển trí tuệ và hoàn thiện nhân cách. Dạy học là con đường cơ bản để thực hiện mục đích giáo dục xã hội. Học tập là cơ hội quan trọng nhất giúp mỗi cá nhân phát triển và thành đạt.

*  Quản lý hoạt động dạy học

Là quá trình người hiệu trưởng hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của giáo viên nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng là hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất.

Quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý quá trình truyền thụ tri thức của đội ngũ giáo viên và quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh; QL các điều kiện có sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động dạy học của cán bộ QL nhà trường

* Biện pháp quản lý hoạt động dạy học

Là nội dung, cách thức, cách giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó của chủ thể quản lý. Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra và phù hợp với quy luật khách quan. Trong nhà trường, biện pháp quản lý hoạt dạy và học là những cách thức tổ chức, điều hành kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học của cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm đạt được kết quả cao nhất đã đề ra.

1.1.3. Giáo dục và Giáo dục toàn diện

          Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc của nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục:

- Theo “Từ điển Giáo dục” (NXB Từ điển bách khoa): “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích , mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”

- Theo Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Dũng: “Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện hiện tượng giáo dục là một tất yếu lịch sử. Nó diễn ra theo cơ chế những thế hệ đi trước truyền lại cho những thế hệ đi sau những kinh nghiệm tích luỹ được và thế hệ sau tiếp thu nó làm phong phú thêm vốn kinh nghiệm đó. Chính nhờ cơ chế này những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của loài người không những không bị mai một đi mà điều quan trọng là lại được phát triển không ngừng”

Từ các định nghĩa trên, ta thấy giáo dục là một khái niệm cơ bản thường được dùng trong khoa học và thực tiễn đời sống xã hội. Ta có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là hoạt động chuyển giao hệ thống tri thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân – xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội. Khái niệm giáo dục còn được phân nhỏ về ngoại diên và nội hàm thành các khái niệm: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội; về nội dung giáo dục thì có: Giáo dục ý thức công dân, giáo dục văn hoá- thẩm mỹ, giáo dục lao động, hướng nghiệp, giáo dục thể chất – quân sự, giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống ma tuý…

Giáo dục được coi là khởi nguồn của sự phát triển. Không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Chính nhờ có giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của các thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau. Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm cho xã hội phát triển.

Giáo dục toàn diện: Theo Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng: “Giáo dục toàn diện là những biện pháp tổng thể của nhà trường, gia đình và xã hội tác động tới học sinh, sinh viên nhằm hình thành và phát triển tất cả các mặt: trí tuệ, đạo đức, sức khoẻ và nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc của mỗi cá nhân. Giáo dục toàn diện trong nhà trường thường biểu hiện ở nội dung giáo dục bao gồm đầy đủ các mặt: đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục nghề nghiệp…phù hợp với điều kiện và đặc điểm đặc thù của từng cấp học, bậc học”

“Thực hiện giáo dục toàn diện nhằm đào tạo những người lao động có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức, có tri thức văn hoá, có sức khỏe và có kỷ luật. “Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh sinh viên”. Giáo dục truyền thống cách mạng, văn hoá dân tộc xuyên suốt các hoạt động và mọi hình thức giáo dục. Ở đây, việc chú trọng cải tiến nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với từng bậc học, cấp học là hết sức quan trọng, quan tâm đến việc tăng cường học ngoại ngữ, tin học”

1.2. Nội dung công tác quản lý hoạt động dạy học Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm chi phối tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Đó là con đường trực tiếp và thuận lợi nhất để giúp cho học sinh lĩnh hội được tri thức của xã hội loài người.

Hoạt động dạy học làm cho học sinh nắm vững tri thức khoa học một cách có hệ thống, cơ bản, có những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết trong học tập, lao động và trong đời sống. Hoạt động này làm phát triển tư duy độc lập sáng tạo, hình thành những năng lực cơ bản về nhận thức và hành động của học sinh, hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, yêu CNXH. Ở trẻ em, đó chính là động cơ học tập trong nhà trường và định hướng hoạt động của học sinh sau này.

Vì vậy có thể nói, hoạt động dạy học trong nhà trường đã tô đậm chức năng xã hội của nhà trường, đặc trưng cho nhiệm vụ của nhà trường và là hoạt động giáo dục trung tâm, là cơ sở khoa học của các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường.

Quản lý hoạt động dạy học là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ hoạt động dạy và học ở trên lớp, tập trung chủ yếu vào các nhiệm vụ sau đây :

+ Thầy dạy và trò học nghiêm túc, đầy đủ theo chương trình và kế hoạch đào tạo ở tất cả các lớp, không được coi nhẹ và bỏ bớt môn nào, ở bất cứ lớp nào, chú trọng cả việc dạy lý thuyết lẫn thực hành, đào tạo được thế hệ học sinh phát triển toàn diện.

+ Xây dựng nền nếp giảng dạy, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu của quá trình giảng dạy của giáo viên.

+ Xây dựng được phương pháp học tập cho học sinh; học sinh có động cơ, tinh thần, thái độ học tập đúng đắn, có phương pháp, nền nếp và kỷ luật học tập ở lớp cũng như ở nhà.

Để thực hiện được nhiệm vụ đó thì điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị, nguồn kinh phí... đóng vai trò rất quan trọng. Vì vậy quản lý hoạt động dạy và học không những chỉ quản lý hoạt động dạy của thầy, quản lý hoạt động học của trò mà còn phải quản lý những điều kiện vật chất-kỹ thuật, điều kiện về kinh phí để phục vụ cho quá trình dạy và học ở trong nhà trường.

1.2.1 Quản lý hoạt động dạy của thầy.

Hoạt động dạy của thầy là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy học. Quản lý hoạt động này bao gồm: Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của giáo viên, quản lý việc dự giờ và phân tích bài học sư phạm, quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh...

-  Quản lý việc thực hiện chương trình

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu của nhà trường phổ thông. Nó là pháp lệnh của nhà nước do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành. Yêu cầu đối với hiệu trưởng là phải nắm vững chương trình, tổ chức cho giáo viên tuân thủ một cách nghiêm túc, không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học (nếu có thay đổi, bổ sung phải theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục- Đào tạo, Sở Giáo dục - Đào tạo địa phương).

Sự nắm vững chương trình dạy học là việc bảo đảm để hiệu trưởng quản lý thực hiện tốt chương trình dạy học. Bao gồm :

+ Nắm vững những nguyên tắc cấu tạo chương tình, nội dung và phạm vi kiến thức của từng môn học, cấp học.

+ Nắm vững phương pháp dạy học đặc trưng của môn học và các hình thức dạy học của từng môn học.

+ Nắm vững kế hoạch dạy học của từng môn học, từng khối lớp trong cấp học.

+ Không được giảm nhẹ, nâng cao hoặc mở rộng so với yêu cầu nội dung, phạm vi kiến thức quy định của từng chương trình môn học.

+ Phương pháp dạy đặc trưng của môn học, của bài học phải phù hợp với từng loại lớp học, từng loại bài của cấp học.

+ Vận dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau, kết hợp giữa các hình thức dạy học trên lớp, ngoài lớp, thực hành, tham quan... một cách hợp lý.

+ Dạy đủ và coi trọng tất cả các môn học theo quy định của phân phối chương trình, nghiêm cấm việc cắt xén, dồn ép bài học, thêm bớt tiết học với bất cứ môn học nào, lớp học nào, dưới bất kỳ hình thức nào.

Để việc quản lý thực hiện chương tình dạy học đạt kết quả, bảo đảm thời gian cho việc thực hiện chương trình dạy học, hiệu trưởng phải chủ ý sử dụng thời khoá biểu như là công cụ để theo dõi, điều khiển và kiểm soát tiến độ thực hiện chương trình dạy học, để thường xuyên, kịp thời điều chỉnh những lệch lạc trong quá trình thực hiện chương trình dạy học.

-  Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp

Soạn bài là khâu quan trọng nhất trong việc chuẩn bị của giáo viên cho giờ lên lớp. Tuy nó chưa dự kiến hết các tình huống trong quá trình lên lớp, nhưng soạn bài thực sự là lao động sáng tạo của từng giáo viên. Nó thể hiện sự suy nghĩ, lựa chọn, quyết định của giáo viên về nội dung, phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp phù hợp với đối tượng học sinh và đúng với yêu cầu của chương trình.

Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp phải bảo đảm những yêu cầu cần thiết đó là :

+ Bảo đảm tính tư tưởng, tính giáo dục của bài giảng.

+ Thực hiện soạn bài phải đúng quy chế, soạn bài chu đáo trước khi lên lớp, chống việc soạn bài để đối phó với việc kiểm tra.

+ Bảo đảm nội dung, tri thức khoa học mang tính giáo dưỡng.

+ Đưa việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp vào nền nếp, nghiêm túc và phải bảo đảm chất lượng.

+ Chỉ đạo không rập khuôn, máy móc, bảo đảm và khuyến khích tính tích cực, tự giác và sáng tạo của giáo viên.

Để việc soạn bài, chuẩn bị lên lớp của giáo viên có thể thực hiện theo một kế hoạch đồng bộ và có hiệu quả, hiệu trưởng nhà trường cần phải phân công trách nhiệm cụ thể cho cán bộ, giáo viên trong trường, tạo mọi điều kiện để họ thực hiện tốt việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, có kế hoạch thường xuyên kiểm tra, theo dõi để khuyến khích kịp thời, đồng thời điều chỉnh những sai lệch nhằm thực hiện đúng quy định đã đề ra.

-  Quản lý giờ lên lớp của giáo viên

Hoạt động dạy và học trong nhà trường phổ thông hiện nay được thực hiện chủ yếu bằng hình thức dạy và học trên lớp, với những giờ lên lớp và hệ thống bài học cụ thể. Nói cách khác, giờ lên lớp là hình thức tổ chức cơ bản và chủ yếu nhất của quá trình dạy học trong nhà trường để thực hiện mục tiêu cấp học.

Chính vì vậy trong quá trình quản lý dạy và học của mình, hiệu trưởng phải có những biện pháp tác động cụ thể, phong phú và linh hoạt để nâng cao chất lượng giờ lên lớp của giáo viên, đó là những việc làm của hiệu trưỏng, là trách nhiệm của người quản lý.

Quản lý giờ lên lớp của giáo viên phải bảo đảm các yêu cầu chủ yếu là :

+ Xây dựng được "chuẩn" giờ lên lớp để quản lý tốt giờ lên lớp của giáo viên theo quy định chung của ngành. Ngoài ra cần thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh để thực hiện được sự tiến độ chung của trường và của giáo viên trong trường.

+ Phải xây dựng nền nếp giờ lên lớp cho thầy và trò nhằm bảo đảm tính nghiêm túc trong mọi hoạt động hết sức nhịp nhàng của nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

+ Phải tác động đến giờ lên lớp một cách tích cực và càng trực tiếp càng tốt để mọi giờ lên lớp đều góp phần thực hiện mục tiêu.

+ Phải yêu cầu cụ thể từng đối tượng thực hiện đầy đủ, nghiêm túc những quy định của nhà trường, thực hiện nghiêm túc quy chế có liên quan đến giờ lên lớp.

Để bảo đảm được những yêu cầu quản lý giờ lên lớp, hiệu trưởng cần xây dựng và quy định rõ chế độ thực hiện và kiểm tra sử dụng thời khoá biểu nhằm kiểm soát các giờ lên lớp, duy trì nền nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học và tạo nên bầu không khí sư phạm trong nhà trường.

-  Quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học

Nét đặc thù cơ bản làm cho quản lý trường học khác với các dạng quản lý khác là trong quản lý trường học có hoạt động dự giờ và phân tích sư phạm bài học. Đây chính là chức năng trung tâm của hiệu trưỏng để chỉ đạo hoạt động dạy và học. và là biện pháp quan trọng hàng đầu trong quản lý giờ lên lớp.

Để việc quản lý dự giờ và phân tích sư phạm bài học có hiệu quả, hiệu trưởng cần phải quán triệt  đầy đủ những yêu cầu cơ bản sau đây :

+ Phải nắm vững được lý luận dạy học và lý thuyết về bài học, nắm vững những quan điểm trong phân tích sư phạm bài học.

+ Nắm vững các bước trong việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học để chỉ đạo tất cả giáo viên trong trường thực hiện.

+ Tổ chức tốt việc dự giờ trong trường, có chế độ dự giờ rõ ràng, có kế hoạch cụ thể, đặc biệt phải có chuẩn đánh giá phù hợp, có đầy đủ hồ sơ dự giờ và có thái độ cầu thị khách quan để đánh giá đúng tình hình giờ lên lớp cũng như đánh giá đúng chất lượng giờ lên lớp. Trên cơ sở đó, tìm ra những biện pháp thích hợp cho công tác quản lý giờ lên lớp của mình.

Để nâng cao chất lượng dự giờ, phân tích sư phạm bài học, cần phải tổ chức các chuyên đề về giờ lên lớp, như trao đổi về nội dung và phương pháp giảng dạy, xây dựng giờ dạy mẫu, tổ chức dạy thử, tổ chức kiến tập, thao giảng ... nhằm giúp giáo viên nắm vững lý thuyết, rút kinh nghiệm về phương pháp giảng dạy, về các bước trong dự giờ và phân tích sư phạm bài học... Trên cơ sở đó khuyến khích sự sáng tạo của giáo viên và đây cũng chính là hoạt động đặc trưng cho nghề nghiệp của giáo viên. Hiệu trưởng nhà trường cần phải tổ chức tốt để tạo điều kiện cho giáo viên phát huy khả năng của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học.

-  Quản lý hoạt động kiểm tra-đánh giá kết quả việc học tập của học sinh

Kiểm tra - đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu được trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học, ở GVCN lớp. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quá trình dạy học, đó là quá trình thu nhận và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh. Trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp, giúp học sinh học tập tiến bộ.

Qua việc quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá học sinh của giáo viên, người quản lý sẽ nắm bắt được chất lượng dạy và học ở từng giáo viên một. Nó là cơ sở để đánh giá quá trình và hiệu quả của người dạy lẫn người học. Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi tình trạng học thêm, dạy thêm tràn lan, khi trình độ chuyên môn của một số giáo viên còn hạn chế thì việc quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh là điều rất quan trọng. Việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh, là việc là hết sức cần thiết của hiệu trưởng nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ và chính xác qúa trình kiểm tra - đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu. Quản lý hoạt động kiểm tra -  đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau đây:

+ Phải thực hiện nghiêm chỉnh quy chế chuyên môn trong nhà trường thông qua điểm số; đánh giá được chất lượng học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Từ đó rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung giúp cho người quản lý chỉ đạo hoạt động này một cách đầy đủ, chặt chẽ hơn.

+ Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản hướng dẫn về đánh giá xếp loại học sinh.

+ Phải đánh giá, xếp loại học sinh một cách công bằng, chính xác, tránh những biểu hiện không đúng trong việc đánh giá xếp loại học sinh. Trong qúa trình thực hiện, hiệu trưởng cần phân công nhiệm vụ cụ thể cho các đối tượng như hiệu phó chuyên môn, tổ trưởng và giáo viên, yêu cầu họ lập kế hoạch kiểm tra - đánh giá học tập một cách đầy đủ theo yêu cầu của chương trình. Đồng thời hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra, xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các đối tượng để bảo đảm hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao chất lượng toàn diện của quá trình dạy học.

 -  Quản lý hồ sơ chuyên môn của giáo viên

Hồ sơ chuyên môn của giáo viên là phương tiện phản ánh quá trình quản lý có tính khách quan và cụ thể, giúp hiệu trưởng nắm chắc hơn, cụ thể hơn tình hình thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên. Có thể nói hồ sơ chuyên môn của giáo viên là một trong những cơ sở pháp lý để nói lên việc thực hiện nền nếp chuyên môn, việc chuẩn bị, đầu tư cho công việc của giáo viên. Nhưng hồ sơ chuyên môn của giáo viên không thể xem đồng nghĩa với năng lực giảng dạy của giáo viên trên lớp.

Hồ sơ của giáo viên phục vụ cho hoạt động dạy theo của Điều lệ nhà trường phổ thông, bao gồm các loại hồ sơ sau :

+ Giáo án (bài soạn)

+ Các loại sổ: Sổ dự giờ, sổ chủ nhiệm (đối với giáo viên làm công tác chủ nhiệm lớp), sổ công tác.

+ Các loại sách : Sách giáo khoa, sách hướng dẫn, phân phối chương trình các tài liệu tham khảo.

Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng cần hướng dẫn cụ thể yêu cầu của từng loại hồ sơ, cùng với hiệu phó chuyên môn và tổ trưởng chuyên môn thường xuyên kiểm tra bằng nhiều hình thức khác nhau để kịp thời điều chỉnh những sai lệch trong hoạt động dạy và học.

-  Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng giáo viên là một yêu cầu, một tiêu chuẩn không thể thiếu được trong qúa trình quản lý nhà trường. Nó thể hiện cụ thể ở hai nội dung sau:

+ Sử dụng đội ngũ giáo viên: Phân công hợp lý trong chuyên môn, phối hợp với năng lực chuyên môn trên cơ sở chú ý đến điều kiện của từng giáo viên trong trường.

+ Bồi dưỡng đội ngũ: Bao gồm việc bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình của Bộ GD - ĐT, theo hình thức bồi dưỡng tại trường hoặc tham gia các lớp bồi dưỡng do cấp trên mở, bồi dưỡng nâng cao trình độ nhằm chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, bồi dưỡng nâng chuẩn...

Quản lý việc sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng. Nó có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng giảng dạy và giáo dục của nhà trường. Vì vậy hiệu trưởng phải có chương trình, kế hoạch, chủ động trong việc bồi dưỡng giáo viên, nhằm từng bước nâng cao trình độ và năng lực sư phạm cho giáo viên.

Tóm lại : Quản lý hoạt động dạy học là quản lý một quá trình chủ đạo của người thầy trong quá trình dạy học, đòi hỏi hiệu trưởng nhà trường phải hiểu hết nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa mềm dẻo, linh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào nền nếp, kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của giáo viên trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.

Tuy nhiên hoạt dộng dạy của thầy sẽ hoàn thành trọn vẹn khi mà người thầy tổ chức tốt hoạt động học của trò. Đó là sự liên tục của hoạt động dạy học, là trách nhiệm cuả người thầy đối với "sản phẩm đào tạo" của mình.

 1.2.2 Quản lý hoạt động học tập của học sinh

Hoạt động học tập của học sinh là một hoạt động song song tồn tại cùng với hoạt động dạy của thầy giáo.

+ Phải làm cho học sinh có động cơ và thái độ đúng đắn trong học tập, rèn luyện, ham thích đến trường đến lớp, ham học các bộ môn. Tự giác tìm tòi, phát hiện vấn đề, chủ động lĩnh hội kiến thức, biến qúa trình được giáo dục thành tự giáo dục.

+ Phải tổ chức hướng dẫn học sinh học tập, giúp học sinh học tập có phương pháp, nắm được các phương pháp học tập ở từng bộ môn.

+ Phải làm cho học sinh có nền nếp thói quen học tập tốt, làm cho hoạt động học tập của nhà trường có kỷ luật, trật tự.

+ Kết quả điểm kiểm tra, xếp loại phản ánh được khả năng học tập của học sinh. Kết quả này phải giúp cho học sinh nhận ra mặt mạnh, mặt hạn chế để vươn lên, đồng thời nó giáo dục cho học sinh tính trung thực trong học tập, trong cuộc sống.

Việc quản lý hoạt động học tập của học sinh phải được thực hiện đầy đủ, toàn diện và mang tính giáo dục cao. Nội dung cơ bản của nó bao gồm :

- Quản lý việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh

Phương pháp học tập là hệ thống các cách sử dụng hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy, quản lý việc giáo dục phương pháp  học tập cho học sinh cần phải đạt được những yêu cầu chủ yếu là :

+ Làm cho học sinh nắm được kỹ năng chung của hoạt động học tập.

+ Làm cho học sinh có kỹ năng học tập phù hợp với từng bộ môn.

+ Giúp học sinh có phương pháp học tập ở lớp.

+ Giúp cho học sinh có phương pháp học tập ở nhà.

Để đạt được những yêu cầu trên, hiệu trưởng phải tổ chức học tập nghiên cứu, bồi dưỡng để toàn thể giáo viên trong nhà trường nắm vững và thống nhất các phương pháp học tập và trách nhiệm của các đối tượng trong trường với việc hướng dẫn phương pháp học tập cho học sinh. Từ đó hiệu trưởng vạch ra kế hoạch chỉ đạo thực hiện và thường xuyên kiểm tra đôn đốc, điều chỉnh, uốn nắn kịp thời những biểu hiện sai lệch nhằm thực hiện có hiệu quả việc giáo dục phương pháp học tập cho học sinh

- Quản lý nền nếp, thái độ học tập của học sinh

Nền nếp học tập, kỷ luật học tập của học sinh là những điều qui định cụ thể về tinh thần, thái độ, hành vi ứng xử nhằm làm cho hoạt động học tập được hoạt động nhịp nhàng và có hiệu quả. Nền nếp học tập sẽ quyết định nhiều đến hiệu quả học tập . Vì vậy, cần phải xây dựng và hình thành được những nền nếp học tập sau đây:

+ Phải xây dựng cho học sinh có tinh thần, thái độ học tập tốt, chuyên cần, chăm chỉ, có nền nếp học bài và làm bài đầy đủ.

+ Giúp học sinh có nền nếp tổ chức hoạt động ở trường cũng như ở nhà và những nơi sinh hoạt văn hoá.. .

+ Nền nếp sử dụng, bảo quản và chuẩn bị đồ dùng học tập

+ Xây dựng được nền nếp về khen thưởng và kỷ luật, chấp hành nền nếp, nội quy học tập cho học sinh

Nền nếp học tập tốt góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Vì vậy, hiệu trưởng nhà trường cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, nhận xét tình hình thực hiện nền nếp và phân công trách nhiệm cụ thể cho các đối tượng để phối hợp thực hiện, tạo ra bầu không khí thuận lợi cho sự giáo dục của nhà trường.

- Quản lý các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí

Đây là yêu cầu quan trọng đối với hiệu trưởng trong việc quản lý các hoạt động học tập của học sinh. Các hoạt động học tập, vui chơi giải trí phải được tổ chức một cách hợp lý, phù hợp với tâm lý và sức khoẻ của học sinh. Đòi hỏi hiệu trưởng phải cân nhắc, tính toán, điều khiển sự cân đối các hoạt động hàng tháng, học kỳ và cả năm để tránh tình trạng lôi kéo học sinh vào những hoạt động, những phong trào đề ra một cách tuỳ tiện, bất thường làm gián đoạn hoạt động học tập của học sinh, xáo trộn chương trình và kế hoạch hoạt động của nhà trường.

 - Quản lý việc phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh

Phân tích, đánh giá kết quả học tập của học sinh là yêu cầu cần thiết trong quản lý của hiệu trưởng. Điểm số của học sinh phải được cập nhật, các bài kiểm tra 15 phút, một tiết trở lên phải được trả cho học sinh đúng thời gian quy định của ngành giáo dục và giáo viên chấm kỹ, có nhận xét, phát hiện những lỗi học sinh thường mắc phải, chữa tại lớp để rút kinh nghiệm.

Căn cứ vào số điểm, dự giờ thăm lớp, sổ đầu bài, hiệu trưởng hoặc hiệu phó, tổ trưởng phân tích, đánh giá kết quả học tập của học sinh thường xuyên hàng tháng. Nội dung cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu là:

+ Tình hình thực hiện nền nếp học tập, tinh thần thái độ học tập, sự chuyên cần và kỷ luật học tập.

+ Kết quả học tập các môn học, về điểm số, tình hình kiểm tra, nhận xét, đánh giá của giáo viên về tình hình học tập của học sinh.

+ Chất lượng học tập của học sinh ở các môn học, các yêu cầu, kỹ năng đạt được của học sinh qua các môn học.

Những kết luận sau khi phân tích sẽ giúp cho hiệu trưởng những thông tin phản hồi, để hiệu trưởng thấy rõ thêm hoạt động dạy học, trên cơ sở đó có những quyết định quản lý kịp thời, chính xác.

- Phối hợp các lực lượng giáo dục quản lý hoạt động học tập của học sinh

Hoạt động học tập của học sinh diễn ra trong không gian và thời gian tương đối rộng, bao gồm chủ yếu là học tập trên lớp và ở nhà. Vì vậy, hiệu trưởng cần phải tổ chức phối hợp tốt giữa giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, bí thư Đoàn và gia đình học sinh, nhằm đưa hoạt động học tập của học sinh vào nền nếp chặt chẽ từ trong trường, lớp đến gia đình. Trong sự phối hợp này đặc biệt chú ý vai trò hoạt động của tổ chức Đội và Sao nhi đồng (đối với cấp I, II), Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh (đối với cấp III). Thông qua hoạt động tập thể, giúp các em phát huy vai trò tự giác tích cực, tự quản các hoạt động học tập của mình. Đồng thời thông qua hoạt động, cần động viên, khích lệ kịp thời tinh thần học tập tiến bộ của các em một cách thường xuyên nhằm thúc đẩy sự cố gắng vươn lên của các em, nâng cao chất lượng học tập theo yêu cầu, mục tiêu.

Mối quan hệ phối hợp với gia đình học sinh trong việc quản lý hoạt động học tập là rất cần thiết. Phải thống nhất được với gia đình các biện pháp giáo dục, thông tin qua lại kịp thời về tình hình học tập của học sinh.

Tóm lại: Quản lý hoạt động học tập của học trò là yêu cầu không thể thiếu được và rất quan trọng trong quá trình quản lý dạy và học. Nếu quản lý tốt đối tượng này thì sẽ tạo được cho học sinh ý thức tự giác trong học tập, rèn luyện, các em sẽ có được thái độ, động cơ học tập đúng đắn, từ đó góp phần và quyết định hiệu quả của hoạt động dạy và học nói riêng và thực hiện được mục tiêu giáo dục đề ra nói chung.

 1.2.3 Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học.

Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học của nhà trường là hệ thống các phương tiện vật chất - kỹ thuật được sử dụng để phục vụ cho việc dạy và học của nhà trường.

Quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ cho dạy và học phải bảo đảm được 3 yêu cầu liên quan mật thiết với nhau, đó là:

+ Bảo đảm đầy đủ cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học

+ Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất - kỹ thuật trong việc dạy và học

+ Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất - kỹ thuật trong nhà trường.

Nội dung quản lý cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường, bao gồm:

- Quản lý trường lớp, phòng học, phòng ở, bàn ghế, bảng.

- Quản lý các trang thiết bị phục vụ dạy học, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng.

- Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài kiệu

- Quản lý đồ dùng học tập của học sinh.

Tất cả các nội dung trên đều cần thiết, cơ sở vật chất và thiết bị ngày càng được trang bị hiện đại để phục vụ cho việc đào tạo đội ngũ lao động đáp ứng được thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1.2.4 Quản lý nguồn kinh phí để chi cho hoạt động dạy và học.

Trong bất kỳ tổ chức đơn vị nào thì nguồn kinh phí đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì các hoạt động dạy và học trong nhà trường, nhất là loại hình trường ngoài công lập. Nó là khoản ngân sách Nhà nước cấp cho dùng chi cho các hoạt động dạy học của nhà trường. Trong lúc nguồn ngân sách nhà nước chi cho trường học ít so với nhu cầu của hoạt động giáo dục, kinh phí đó dành cho việc chi lương lên đến là chủ yếu, ngân sách được cấp thì việc bảo đảm các nguồn tài chính ở nhà trường là mối quan tâm chỉ đạo của hiệu trưởng.

Nguồn kinh phí này được chi dùng cho các hoạt động chuyên môn, như: tổ chức đố vui, báo cáo chuyên đề, thao giảng, tham quan phục vụ môn học, thí nghiệm thực hành, bổ sung nguồn ngân sách,... chi khen thưởng giáo viên, học sinh có thành tích, hỗ trợ giáo viên đi học nâng cao, đi học bồi dưỡng, thăm hỏi, hỗ trợ giáo viên khi gặp hoạn nạn, ốm đau...

Nếu nhà trường tạo được nguồn kinh phí tốt và sử dụng đúng vào các mục đích trên thì người quản lý không những thực hiện tốt phương pháp kinh tế trong quản lý giáo dục mà còn làm tốt phương pháp tâm lý – xã hội của quản lý giáo dục.

2. Thực trạng  về công tác Quản lí hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở huyện Lục Yên.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của huyện Lục  Yên.

Lục Yên là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Yên Bái, có diện tích tự nhiên 806,948 km², địa hình tương đối phức tạp. Toàn huyện có 24 xã, thị trấn, quy mô mạng lưới trường, lớp được đầu tư xây dựng đến tận các thôn bản vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc trên địa bàn được đến trường vui chơi và học tập. Nghề nghiệp chủ yếu của nhân dân là trồng trọt, chăn nuôi, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, nhận thức xã hội của một bộ phận dân cư còn hạn chế. Toàn huyện có 16 dân tộc chung sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 52,48%, dân tộc Kinh chiếm 18,79%, dân tộc Nùng chiếm 10,55%, dân tộc Dao chiếm 17,7%, còn lại là các dân tộc khác. Kinh tế của huyện Lục Yên ngày càng phát triển ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực, an ninh - quốc phòng được giữ vững, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện, cơ sở hạ tầng đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Công tác phát triển giáo dục: Tính đến thời điểm 01/11/2016, sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo huyện Lục Yên có tổng số 50 đơn vị trường học trực thuộc, 85 điểm trường, 814 nhóm lớp/23.056 cháu, học sinh. Đội ngũ cán bộ giáo viên nhân viên hiện có 1.760 người, (trong đó: Biên chế 1.744 người, Hợp đồng theo Nghị định 68: 16 người). Tỷ lệ CBQL, GV có trình độ đào tạo chuẩn trở lên đạt 99,94% (trong đó: trên chuẩn đạt 74,37%). Cơ sở vật chất, thiết bị, đồ chơi, đồ dùng, thiết bị dạy học tối thiểu đã được quan tâm đầu tư, tổng số phòng học hiện có: 878 phòng (665 phòng kiên cố, 161 phòng bán kiên cố, 52 phòng tạm).

Trong những năm qua, sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo huyện Lục Yên đã có nhiều tiến bộ; mạng lưới trường lớp được quy hoạch, củng cố và từng bước hoàn thiện; đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm phát triển; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được tăng cường. Chất lượng giáo dục từng bước được nâng lên, tỷ lệ huy động trẻ em 5 tuổi ra lớp, trẻ 6 tuổi vào học lớp 1 luôn đạt 100%. Huyện duy trì bền vững kết quả chống mù chữ, PCGD tiểu học đúng độ tuổi, PCGD THCS; hoàn thành PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi.

Kết luận: Lục Yên với truyền thống hiếu học, tinh thần trung dũng quả cảm đặc trưng tiêu biểu cho con người đất Lục anh hùng, ngày nay truyền thống đó vẫn được lưu giữ trong con người Lục Yên. Trong lực lượng lãnh đạo chủ chốt rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là giáo dục cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này.

2.2. Một số nét khái quát về Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở huyện Lục Yên.

Từ thập niên 90 đến nay, dưới sự định hướng, lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp; được sự quan tâm sâu sắc, sự phối hợp và tạo điều kiện của các ban ngành, các tổ chức đoàn thể; trường PTDTNT Trung học cơ sở huyện Lục Yên đã được đầu tư: Cơ sở vật chất khang trang, cơ bản đáp ứng được nhu cầu ăn, ở, học tập cho con em đồng bào các dân tộc huyện nhà. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đảm bảo đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu.

Nhà trường chú trọng công tác tổ chức dạy học nâng cao chất lượng, quán triệt mục tiêu giáo dục toàn diện, đổi mới phương pháp, nâng cao năng lực chuyên môn, yêu thương và tôn trọng học sinh, trách nhiệm trước nhiệm vụ vẻ vang của sự nghiệp “trồng người”. Các trường tổ chức triển khai việc giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông cho 100% học sinh lớp cuối cấp; các hoạt động lao động, văn hoá, thể thao và tổ chức đời sống nội trú cho học sinh phù hợp với tính chất đặc thù của trường như: sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao; các trò chơi dân gian, các hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, chủ điểm tháng... Chú trọng công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng lao động thông qua sinh hoạt tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tổ chức nấu ăn 3 bữa/ngày cho học sinh, quản lý tốt học sinh ở nội trú 24/24 giờ; duy trì việc thực hiện nội quy nền nếp theo quy định. Với những hoạt động đó, Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở huyện Lục Yên từng bước khẳng định vị trí là trung tâm chất lượng quan trọng trong hệ thống giáo dục dân tộc của huyện, là nơi tạo nguồn nhân lực chất lượng cho vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.

2.3. Thực trạng về công tác Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên.

 Qua nghiên cứu thực trạng về công tác Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên. Chúng tôi thấy mặc dù có nhiều  thuận lợi và ưu điểm nhưng cũng còn nhiều khó khăn, bất cập:

2.3.1. Những thuận lợi và ưu điểm

Do nhận thức sâu sắc được vai trò, nhiệm vụ của trường chuyên biệt và tầm quan trọng của quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường, lãnh đạo trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên đã xây dựng được một hệ thống biện pháp quản lý và tập trung chỉ đạo thành công ở một số mặt hoạt động chuyên môn. Kết quả giáo dục - đào tạo học sinh giỏi toàn diện trong trường được nâng lên rõ rệt. Tỷ lệ học sinh đạt giải học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh những năm sau thường cao hơn năm trước. Có thể nói trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên đang khẳng định được “thương hiệu” của mình, được lãnh đạo các cấp và nhân dân huyện Lục Yên tin yêu.

 Bằng kinh nghiệm, năng lực quản lý của mình, Hiệu trưởng đã biến các văn bản, chỉ thị hướng dẫn của cấp trên thành những nhiệm vụ cụ thể của nhà trường; có kế hoạch, biện pháp chỉ đạo và tổ chức các hoạt động dạy học để đạt mục tiêu đề ra trong năm học. Ban giám hiệu nhà trường, mỗi người đều biết phát huy thế mạnh của riêng mình, đồng thời góp phần từng bước nâng cao, cải tiến công tác quản lý; xây dựng các biện pháp quản lý với nội dung phong phú, sát hợp với đặc thù dạy và học của nhà trường:

- Các cán bộ quản lý có trình độ chuyên môn giỏi, năng lực quản lý tốt, làm việc theo khoa học, biết phát huy nội lực, nhất là tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường. Lãnh đạo điều hành bằng một hệ thống quy chế về quản lý rất chi tiết, rõ ràng. Quản lý chuyên môn và nền nếp học tập của giáo viên, học sinh chặt chẽ, nghiêm khắc xử lý các trường hợp vi phạm.

- Đội ngũ giáo viên được bổ sung một lực lượng trẻ, sung sức, nhiệt tình và có nhiều tiềm năng bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu. Được phân công giảng dạy ở các khối lớp, giáo viên đều thực hiện khá nghiêm túc quy chế chuyên môn. Hồ sơ chuyên môn, nghiệp vụ đầy đủ, ghi chép cẩn thận, nghiêm túc. Nhiều giáo viên giỏi, tận tâm với nghề, có nhiều bài giảng hay, phát huy được năng lực sáng tạo của học sinh chuyên, bồi dưỡng được nhiều học sinh giỏi các cấp. Chế độ khen thưởng của nhà trường ngày càng có động lực “kích cầu” giáo viên hoàn thành nhiệm vụ, có những thành tích cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi các cấp.

- Học sinh có động cơ, mục đích học tập rõ ràng, lành mạnh. Nhiều em say mê với hoạt động học, tích cực tự học, làm bài tập và đọc các tài liệu tham khảo để mở mang thêm kiến thức cho bản thân. Nội dung học tập về cơ bản khá phù hợp với yêu cầu của mỗi năm học. Những nội dung mà học sinh quan tâm phù hợp với yêu cầu của các thầy cô giáo bộ môn, yêu cầu đặt ra với học sinh giỏi. Tỷ lệ giáo dục đại trà với học sinh cả 4 khối lớp đều đạt cao đứng hàng đầu so với mặt bằng giáo dục trong các trường THCS trên toàn huyện. Đặc biệt kết quả giáo dục “mũi nhọn” (thi học sinh giỏi các cấp) học sinh trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên luôn luôn giữ vị trí tốp đầu trong các đơn vị. Điều này tạo được uy tín của nhà trường, tạo được niềm tin trong cán bộ, nhân dân và các cấp chính quyền địa phương.

2.3.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Do nhà trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên trường là chuyên biệt ngoài việc học tập, trau dồi và chiếm lĩnh tri thức còn có các hoạt động ngoài giờ, vui chơi, giải trí, ăn, ở, ngủ, nghỉ tại trường nên còn một bộ phận giáo viên được điều động ở các đơn vị khác đến công tác chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà trường. Nhiều giáo viên được bổ sung còn ở dạng tiềm năng. Vì thế theo dõi chung, chúng tôi nhận thấy thiếu sót mắc phải dễ thấy nhất là giáo viên tập trung dạy kiến thức cho học sinh chứ không chú trọng đến công tác giáo dục ( Đặc biệt là giáo dục về bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục kỹ năng sống cho các em). Việc soạn bài, chuẩn bị cho giờ giảng được giáo viên quan tâm, đã đi vào nền nếp. Song ở một số giáo viên, chất lượng bài soạn chưa thật cao; khâu chuẩn bị đồ dùng thí nghiệm và các giáo cụ trực quan, đôi lúc chưa chu đáo, nên hiệu quả còn hạn chế. Tình trạng “dạy chay” vẫn còn. Qua tìm hiểu học sinh về hoạt động  giáo viên tổ chức cho học sinh học tập bộ môn tự nhiên, chúng tôi thấy còn có những bất cập cần sớm khắc phục: Hướng dẫn học sinh tự học, tập dượt nghiên cứu khoa học và đổi mới phương pháp học tập chưa được nhiều. Vấn đề sinh hoạt tổ chuyên môn nhà trường còn mang nặng tính sự vụ, hành chính, như theo dõi ngày công, giờ công và kiểm tra các loại hồ sơ, sổ sách. Các hoạt động mang tính chuyên đề, câu lạc bộ và ngoại khoá mang đặc thù của nhà trường  chưa nhiều, hiệu quả còn thấp, chưa thực sự khơi dậy và phát huy được tiềm năng của các cá nhân và tập thể tổ chuyên môn. Hoạt động chuyên môn của các giáo viên giỏi còn thiên về “mạnh ai nấy làm”. Sự chia sẻ, giúp đỡ nhau về chuyên môn trong các nhóm, tổ bộ môn còn có những bất cập đáng kể.

- Cơ sở vật chất và các phương tiện thiết bị phục vụ học tập cho học sinh còn thiếu; nhiều thứ đã quá xuống cấp và lạc hậu cần được bổ sung, nâng cấp và mua sắm thêm. Công tác xây dựng kế hoạch học tập và hướng dẫn, kiểm tra học sinh thực hiện kế hoạch chưa được thầy cô và học sinh quan tâm đúng mức. Số lượng học sinh sử dụng quỹ thời gian học tập chưa khoa học còn nhiều. Vẫn còn không ít học sinh chưa biết phân phối thời gian hợp lý cho việc học tập và các hoạt động ngoại khoá. Trường còn ít các hoạt động cho học sinh tập dượt nghiên cứu khoa học, tham quan, dã ngoại, tìm hiểu, gần gũi thực tế đời sống, các giờ thực hành hiệu quả chưa cao. Công tác kiểm tra, đánh giá của nhà trường với các môn học chủ yếu là tự luận, chưa phù hợp với đặc thù của nhà trường trong việc phát hiện, bồi dưỡng học sinh năng khiếu. Quá trình tuyển sinh có khâu chưa chặt chẽ, nên có những học sinh được tuyển vào trường chưa tự chăm sóc được cho bản thân. Vẫn còn học sinh vi phạm quy chế đã làm ảnh hưởng không i  nhỏ tới môi trường sư phạm, kỷ luật trường lớp và nhất là chất lượng đào tạo của nhà trường.

 - Trong quá trình quản lý hoạt động dạy học, Ban giám hiệu áp dụng chủ yếu là kiểu quản lý hành chính, sự vụ. Kiểu quản lý này là cần thiết đối với các trường THCS nói chung. Nhưng các hoạt động dạy học đã được chấn chỉnh, đi vào nền nếp thì kiểu quản lý này dễ trở nên nặng nề, cứng nhắc, hình thức. Kiểu quản lý hành chính, sự vụ còn hạn chế tính chủ động sáng tạo của cán bộ quản lý và tạo ra sự đối phó trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo viên .Hiệu trưởng có năng nổ, giỏi giang “trăm tay nghìn mắt” đến đâu cũng khó kiểm soát được hết những thiếu sót, vi phạm xảy ra trong Hội đồng giáo dục và học sinh nhà trường.

- Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên cần được đổi mới hơn, mạnh dạn hơn. Vai trò, trách nhiệm, sự tự chủ và “cái uy” của các tổ trưởng chuyên môn là rất quan trọng đối với công tác phân loại, đánh giá giáo viên hàng năm của Hiệu trưởng. Nếu Hiệu trưởng tạo điều kiện và nâng cao hơn nữa vị thế của họ thì việc đáng giá giáo viên sẽ toàn diện hơn, đúng thực chất hơn. Những giáo viên không đủ điều kiện và năng lực dạy chuyên nhất thiết phải chuyển sang công tác khác hoặc chuyển về các trường phổ thông. Có như vậy mới bảo đảm được yêu cầu “chuẩn” của giáo viên trường chuyên biệt trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.

          Những lý do trên là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở trường  Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Lục Yên. Để khắc phục được tình trạng này bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của từng giáo viên cần có sự phối hợp, giúp sức từ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đồng thời phải có sự ủng hộ nhiệt tình của chính gia đình học sinh. Vậy làm thế nào để học sinh yêu trường, yêu lớp, kính trọng thầy cô, yêu quý bạn bè, tích cực rèn luyện và học tập ? Đó là những câu hỏi đặt ra cần được các nhà quản lý trường học cần giải đáp.

3. Biện pháp Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên.

3.1. Biện pháp 1: Nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên.

* Mục tiêu của biện pháp

Nhận thức có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng và chi phối mọi hoạt động của mỗi cá nhân cũng như toàn thể bộ máy nhà trường. Bởi vậy, đội ngũ cán bộ quản lý là nhân tố quyết định sự hưng thịnh hay suy thoái của mỗi cơ quan, mỗi đơn vị. Vì thế, trong công tác xây dựng đội ngũ, trước hết phải bồi dưỡng nâng cao phẩm chất năng lực cán bộ, giáo viên. Trong nhà trường, cần phải xây dựng được một đội ngũ tham gia quản lý với các bộ phận và các cấp độ khác nhau, cùng thuộc chủ thể quản lý, được chuyên môn hóa, được xác định quyền hạn và nhiệm vụ rõ ràng, có liên hệ phụ thuộc lẫn nhau, để thực hiện chức năng quản lý nhằm đạt các mục tiêu quản lý đề ra. Đứng đầu bộ máy quản lý nhà trường là Hiệu trưởng, cùng tham gia quản lý có các bộ phận giúp việc, tham mưu cho Hiệu trưởng, như: Phó Hiệu trưởng, các tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, các trưởng ban đoàn thể và tổ chức quần chúng, như: Chủ tịch Công đoàn, Bí thư Đoàn trường, Trưởng ban nữ công, Chủ tịch Hội cha mẹ học sinh...

Đội ngũ giáo viên là lực lượng chủ yếu giữ vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu và kế hoạch đào tạo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả giáo dục của nhà trường. Phẩm chất, trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng, uy tín của nhà trường, nhất là “ thương hiệu” của một trường chuyên biệt.

Trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên thuộc loại trường chuyên biệt được Nhà nước thành lập cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ và nguồn nhân lực có chất lượng cho vùng này. Vì thế, đòi hỏi đội ngũ giáo viên cao hơn, giỏi hơn so với trường THCS đại trà. Thực tế cho thấy năng lực quản lý, trình độ giáo viên nhà trường chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với một trường chuyên biệt trong thời kỳ mới. Việc nâng cao phẩm chất, năng lực, trình độ cho cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên nhà trường là hết sức cần thiết, cần được chú trọng trong các biện pháp quản lý công tác dạy học của nhà trường để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Công việc này phải được thực hiện thường xuyên  và lâu dài.

* Nội dung và cách thức tiến hành

- Đối với đội ngũ cán bộ quản lý (BGH, thư ký hội đồng, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm):

Không ngừng học tập về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ, bố trí công việc để có thể tham gia các khoá học bồi dưỡng về lý luận chính trị, về quản lý nhà nước, quản lý giáo dục. Với những cán bộ quản lý chưa đào tạo qua trường lớp quản lý của Bộ hay Sở GD&ĐT, cần tạo điều kiện để họ tham gia các lớp học chuyên môn và chuyên ngành quản lý giáo dục di cấp trên tổ chức. Ngoài việc tạo điều kiện về thời gian và động viên tinh thần, còn rất cần hỗ trợ kinh phí để các cán bộ quản lý yên tâm, phấn khởi và chuyên chú vào việc học tập.

Ngoài ra còn nên khích lệ, động viên cả vật chất và tinh thần cho những anh chị em giáo viên ham học, có điều kiện đi học ở trình độ sau đại học, để nâng cao học vị, để họ có trình độ “vượt chuẩn”, xây dựng làm hạt nhân và là “cán bộ nguồn” tiềm năng của nhà trường.

Bên cạnh đó, để đạt được mục tiêu về xây dựng và phát triển đội ngũ, Hiệu trưởng còn là người tiên phong, gương mẫu trong các hoạt động tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn. Tích cực đọc thêm sách báo, tài liệu về quản lý và dùng người.

+ Sưu tầm, nghiên cứu đầy đủ các văn bản, chỉ thị, những quy định hướng dẫn của các cấp quản lý; không ngừng bổ sung, hoàn thiện các biện pháp quản lý hoạt động dạy học phù hợp với trường chuyên biệt.

+ Tiến hành cho các cán bộ quản lý nhà trường học tập các Nghị quyết của Đại hội Đảng về giáo dục đào tạo, nâng cao tinh thần trách nhiệm, ý thức tự giác, sự năng động và sáng tạo trong công tác chỉ đạo giảng dạy và các hoạt động khác.

+ Tăng cường các hoạt động giao lưu trao đổi, học tập kinh nghiệm với các trường chuyên điển hình trong phạm vi ngoài tỉnh để cán bộ của nhà trường có cơ hội bổ sung kiến thức thực tế, biết rút kinh nghiệm và tổng kết kinh nghiệm để vận dụng vào nhà trường.

+ Thông qua chất lượng đào tạo, bồi dưỡng để điều chỉnh quy hoạch cán bộ quản lý cho hợp lý. Tránh tình trạng hụt hẫng về đội ngũ cán bộ; tình trạng bổ nhiệm trước, bồi dưỡng sau, vừa không đúng quy trình, vừa hạn chế chất lượng công tác.

- Đối với đội ngũ giáo viên

Hàng năm trong kế hoạch của nhà trường, cần xác định rõ nội dung bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên. Kế hoạch sử dụng và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên phải được triển khai và kế hoạch này thành một nội dung chính trong kế hoạch của tổ chuyên môn của mỗi giáo viên.

Kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn được lập một cách chi tiết, cụ thể về các nội dung. Mỗi giáo viên ngoài chương trình bồi dưỡng chung, có kế hoạch tự bồi dưỡng nâng cao về chuyên môn nghiệp vụ, cụ thể:

+ Nâng cao kiến thức chung, năng lực sư phạm

+ Phương pháp dạy học tích cực

+ Tự rèn luyện, học hỏi qua sách vở, qua dự giờ, thăm lớp của đồng nghiệp, qua hội thi thao giảng của trường

+ Nhà trường tổ chức các lớp bồi dưỡng, mời các chuyên gia về giảng dạy, nói chuyện chuyên đề.

+ Có kế hoạch cử giáo viên đi học, Đại học và sau Đại học để nâng cao chuẩn đào tạo, có đội ngũ cán bộ cốt cán vững vàng, đầu tư cho mũi nhọn và làm nòng cốt chuyên môn.

Để công tác bồi dưỡng giáo viên có hiệu quả, Hiệu trưởng phải tiến hành phân loại đánh giá đội ngũ giáo viên về các mặt, từ đó xác định được yêu cầu nội dung cần bồi dưỡng đối với từng giáo viên.

Hiệu trưởng phải tạo ra bầu không khí giáo dục lành mạnh, tạo nên nền nếp giảng dạy nghiêm túc để giáo viên tự giác thực hiện các yêu cầu đề ra.

Tóm lại: Công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên là vấn đề rất quan trọng cần được chú trọng và quan tâm hàng đầu trong quản lý chỉ đạo công tác giảng dạy của nhà trường. Muốn củng cố uy tín của mình, nhà trường phải có đội ngũ giáo viên vững vàng, giàu năng lực. Như chúng ta đã biết, muốn có giáo viên đạt chuẩn và vượt chuẩn ỏ trường chuyên biệt  thì bản thân mỗi giáo viên phải rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, luôn luôn  tự học, bổ sung kiến thức cho mình thì mới đạt được kết quả mong muốn. Để giúp giáo viên đạt được kế hoạch của mình thì Hiệu trưởng phải tạo điều kiện để đẩy nhanh mức chuyển biến đạt hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu của xã hội đối với trường chuyên.

3.2. Biện pháp 2: Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học của học sinh trường PTDT Nội trú.

          * Mục tiêu của biện pháp

Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học và vận dụng kiến thức, kỹ năng của học sinh.

Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học: Áp dụng hoạt động trải nghiệm sáng tạo; thí nghiệm; thực hành; ứng dụng công nghệ thông tin. Ngoài việc tổ chức cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập trên lớp, cần coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, ở ngoài nhà trường.

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên và học sinh tham gia nghiên cứu khoa học, tích cực tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học, Dạy học theo chủ đề tích hợp, Vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết tình huống thực tiễn.

Tích cực tham gia các hoạt động chuyên môn trên trang mạng “Trường học kết nối” về xây dựng chủ đề dạy học, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh.

Khuyến khích tổ chức, thu hút học sinh tham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trên cơ sở tự nguyện của phụ huynh và học sinh; phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nội dung học tập của học sinh; tăng cường tính giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy học sinh hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, bổ sung hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới.

 

 

          * Nội dung và cách thức tiến hành

          Ban giám hiệu chỉ đạo các tổ chuyên môn cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh để nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của giáo viên.

          + Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học và sự hiểu biết của giáo viên về các phương pháp dạy học; những ưu- nhược điểm của từng phương pháp, để họ có cách lựa chọn cho phù hợp với nội dung bài dạy, với từng đối tượng học sinh, dưới hình thức bồi dưỡng chuyên đề, hội thảo về phương pháp dạy học tích cực.

          + Phổ biến và biên soạn các tài liệu hướng dẫn giảng dạy, soạn giáo án thể hiện được phương pháp dạy học mới.

          + Nghiên cứu một cách có hệ thống các kinh nghiệm thực tiễn, tổng kết và phổ biến rộng rãi đến giáo viên, giúp họ có ý thức và cách thức đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho đạt được hiệu quả cao nhất ở mỗi lớp, mỗi tiết dạy.

          + Yêu cầu và hướng dẫn các tổ chuyên môn nghiên cứu, trao đổi và thống nhất phương pháp dạy một số bài hay, bài khó trong chương trình; tích cực soạn giảng và báo cáo các chuyên đề. Mời các chuyên gia về phương pháp giảng dạy đến dự, truyền đạt kinh nghiệm và góp ý kiến xây dựng.

          + Cần hướng dẫn và quán triệt việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên. Giáo viên cần phải chú ý đến trình độ kiến thức, đặc điểm tâm lý, khả năng nhận thức, trình độ tư duy và hoàn cảnh sống cũng như điều kiện học tập của học sinh.

          + Yêu cầu giáo viên nghiên cứu kỹ chương trình, nhất là việc chuẩn bị lên lớp cho từng tiết dạy, từng bài học; cần vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học; chú ý ưu điểm của các phương pháp dạy học truyền thống: Thuyết trình, gợi mở, vấn đáp.., cần quan tâm tới việc tổ chức thực hiện hệ thống các câu hỏi, các dạng bài tập, phát huy sự tìm tòi cái mới, năng lực tư duy sáng tạo và ý thức tự giác, độc lập suy nghĩ của học sinh. Tích cực sử dụng đồ dùng dạy học và các loại thí nghiệm áp dụng có hiệu quả các phương tiện kỹ thuật- công nghệ thông tin hiện đại vào giảng dạy. Tránh tình trạng “ dạy chay” và việc sử dụng tuỳ tiện các phương tiện, đồ dùng dạy học. Vì điều đó không những không đem lại hiệu quả nâng cao tính tích cực hoá quá trình nhận thức và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh chuyên, mà còn làm lãng phí thời gian, nguyên vật liệu và phá vỡ cấu trúc của quá trình dạy học.

3.3. Biện pháp 3: Tăng cường chỉ đạo giáo dục toàn diện cho học sinh trường PTDT Nội trú.

* Mục tiêu của biện pháp

           Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chât, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

           Tăng cường chỉ đạo giáo dục toàn diện cho học sinh chuyên biệt là nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường đáp ứng với yêu cầu của xã hội, góp phần “nâng cao dân trí - đào tạo nhân lực - bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước trong thời kỳ CNH-HĐH.

          Để thực hiện được những mục tiêu trên, nhà trường có thể tiến hành qua nhiều hoạt động, dưới nhiều hình thức sinh động, bổ ích phù hợp với học sinh học sinh trường PTDT Nội trú.

          * Nội dung và cách thức tiến hành

          -Trước hết là cần phải bồi dưỡng động cơ, thái độ học tập, kích thích sự ham học, ý thức chuyên cần của học sinh.

Động cơ là yếu tố tác động bên trong, là yếu tố cần thiết trong quá trình hoạt động của con người, thể hiện ý thức tự giác của mỗi cá nhân. Mọi hoạt động sẽ đạt được hiệu quả, chất lượng cao hơn nếu cá nhân có mục đích và động cơ rõ ràng, sâu sắc. Động cơ đúng đắn sẽ kích thích ý muốn hành động, thúc đẩy con người hành động tích cực, sáng tạo, dồn toàn bộ tâm huyết và trí lực để thực hiện mục tiêu. Hoạt động học tập của học sinh nếu xác định được động cơ tốt, sẽ đạt được kết quả cao.

Để đạt được điều này, BGH nhà trường cần có những hoạt động tăng cường giáo dục động cơ học tập, ý thức tự giác, thái độ tích cực để học sinh có ý chí vươn lên: Phối hợp với Liên Đội, với giáo viên chủ nhiệm các lớp để tổ chức các hội thảo chuyên đề, theo đơn vị lớp hoặc liên chi đội. Nên mời những người thành đạt nhờ nỗ lực học tập tới giao lưu, nói chuyện với học sinh, hun đúc trong các em ý chí nỗ lực, quyết tâm lập thân lập nghiệp, noi gương những “thần tượng” mà các em ngưỡng mộ.

Cần có sự phối hợp với gia đình học sinh, với các đoàn thể và chính quyền địa phương để làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục. Thông qua cha mẹ học sinh, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề để nâng cao nhận thức về động cơ học tập, có biện pháp quản lý quá trình học tập của học sinh tại nhà trường và gia đình.

          - Tăng cường xây dựng nền nếp, kỷ cương trong học tập của HS.

 Một số năm gần đây, học sinh  trường PTDT Nội trú THCS huyện Lục Yên được chọn lọc có chất lượng cao hơn và được học tập trong một môi trường sư phạm tốt. Nền nếp-kỷ cương trường lớp được các em thực hiện nghiêm túc. Tuy nhiên, trong tình hình hiện nay, các hiện tượng têu cực, tệ nạn xã hội có nguy cơ xâm nhập mạnh vào học đường, gây ảnh hưởng xấu đối với học sinh (vì phần lớn các em học sinh xa nhà, lại đang ở tuổi mới lớn). Việc tăng cường xây dựng nền nếp, kỷ cương trường lớp đối với học sinh nội trú trong quá trình học tập rất có ý nghĩa đối với việc nâng cao chất lượng học tập toàn diện của nhà trường. Công tác quản lý nhà trường cần tăng cường giáo dục pháp luật, giáo dục ý thức công dân cho học sinh, ý thức tuân thủ pháp luật...Tăng cường vai trò, trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm, tránh khoán trắng, buông lỏng việc quản lý học sinh cho giáo viên chủ nhiệm; phát hiện kịp thời và sử lí nghiêm khắc, triệt để những trường hợp vi phạm kỷ luật; chú trọng vai trò tự quản của học sinh.

          - Tăng cường các hoạt động ngoại khoá, hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp.

Thông qua các câu lạc bộ sở thích (thanh nhạc, thơ văn, khiêu vũ.. ). Các chương trình giao lưu giữa các khối lớp chuyên trong trường, giữa học sinh nhà trường với các đơn vị kết nghĩa: “Tháng 5 nhớ Bác”, “Theo bước anh bộ đội cụ Hồ”, “Trở về nguồn cội”, các cuộc thi (Vẻ đẹp học đường, Tài hoa- thanh lịch, Khéo tay hay làm..)

          Ban giám hiệu chỉ đạo các tổ chuyên môn, các giáo viên chủ nhiệm lớp kết hợp với Đoàn thanh niên lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động ngoại khoá phong phú, sinh động, bổ ích và hấp dẫn với các chủ đề của tháng, của thấng học hè và cả năm học, như: Truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng của quê hương và truyền thống của trường; Những vấn đề bức xúc có tính toàn cầu, như: bảo vệ môi trường sống, ma tuý- mại dâm, bùng nổ dân số và tình trạng đói nghèo, dịch cúm gia cầm, khủng bố và chiến tranh màu da sắc tộc...

 Để làm tốt công tác này, Hiệu trưởng cần phải chỉ đạo tuyên truyền, giáo dục để từ cán bộ giáo viên đến học sinh, cha mẹ học sinh có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về các hoạt động ngoài giờ lên lớp đối với học sinh nội trú; chỉ đạo Liên đội xây dựng kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, đồng thời có các biện pháp tổ chức, hướng dẫn, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác kịp thời, thường xuyên. Tránh tình trạng “làm một nơi, nói một nẻo”, “đánh trống bỏ dùi” hoặc để cho học sinh các lớp tự do tổ chức gây nên sự lộn xộn, thậm chí phản giáo dục.

         

 

- Tăng cường công tác thi đua - khen thưởng đối với giáo viên và học sinh.

Đối với giáo viên: Cần tổ chức biểu dương, khen thưởng kịp thời các điển hình tiên tiến trong việc nghiên cứu khoa học, có những tìm tòi, sáng tạo và thực hiện thành công các phương pháp dạy học mới; có thành tích cao trong công tác chủ nhiệm và bồi dưỡng học sinh giỏi.

Đối với học sinh: BGH chỉ đạo để giáo viên có sự nhận xét, khen - chê kịp thời với lớp học sau mỗi giờ dạy ghi lại vào sổ đầu bài. Giáo viên chủ nhiệm khen - chê kịp thời đối với các cá nhân và các tổ có thành tích hay có khuyết điểm. BGH nhà trường khen - chê đối với các đơn vị lớp hàng tuần hay hàng tháng, có sơ kết, đánh giá thi đua qua các đợt phát động. Phần thưởng cần được trao tặng đúng người đúng việc, nhất là phải khách quan, vô tư và công bằng trong khen thưởng thi đua, tránh hiện tượng thiên vị, thành kiến cá nhân sẽ có ảnh hưởng tiêu cực, phản tác dụng.

Các nguồn khen thưởng giáo viên và học sinh được lấy từ ngân sách và có thể được hỗ trợ thêm từ Quỹ khuyến học.

- Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta nhằm huy động được sức mạnh của toàn xã hội vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cán bộ quản lý ở một trường PTDTNT THCS càng phải thấy rõ được những tác động tích cực của công tác này để phát huy hiệu quả của nó. Cụ thể là:

+ Huy động sự tham gia của Hội cha mẹ học sinh trong công tác giáo dục. Ngày nay, xã hội càng phát triển, bên cạnh những thuận lợi dân trí được nâng cao, đời sống được cải thiện... thì những nguy cơ tiêu cực trong xã hội cũng nảy sinh.Nhiều bậc cha mẹ học sinh rất lo lắng và lúng túng trong việc giáo dục, dạy bảo con em. BGH nhà trường cần huy động và bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm về lĩnh vực này để giáo viên chủ nhiệm tư vấn cho cha mẹ học sinh, là nhịp cầu nỗi giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Hàng năm, BGH chỉ đạo tốt các kỳ họp - gồm 3 lần trong 1 năm học mà giáo viên chủ nhiệm chịu trách nhiệm tổ chức chính - giữa nhà trường và cha mẹ học sinh để thống nhất mục tiêu kế hoạch giáo dục, bầu Ban đại diên Hội cha mẹ học sinh, phân công phụ trách từng địa bàn để tiện liên hệ. Ngoài ra, hàng tuần, hàng tháng, giáo viên chủ nhiệm còn sử dụng sổ liên lạc điện tử để trao đổi, phản ánh kết quả học tập rèn luyện của học sinh tới gia đình.

Phụ huynh học sinh phải thường xuyên đến trường trò chuyện để hiểu và giúp con tháo gỡ những khó khăn, động viên khuyến khích con học tập; xây dựng gia đình văn hoá với nếp sống hoà thuận văn minh; cha mẹ là tấm gương sống cho con cái về mọi mặt. Sự quan tâm giáo dục của gia đình, nhất là của cha mẹ học sinh chính là yếu tố quan trọng giúp học sinh học tập và rèn luyện tốt.

+ Duy trì mối quan hệ giữa nhà trường với chính quyền địa phương, các cơ quan hữu quan và các tổ chức xã hội. Phát triển giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của các cấp chính quyền và toàn xã hội. BGH nhà trường cần chủ động tạo ra những mối quan hệ tốt với các tổ chức, đoàn thể, chính quyền địa phương trên địa bàn để tạo nên tác động giáo dục thống nhất.   

 Sự phối hợp của các tổ chức, đoàn thể trên không chỉ góp phần tăng thêm về nguồn lực tài chính mà còn giúp đỡ nhà trường thực hiện các nội dung: giáo dục thể chất, giáo dục sức khoẻ và giới tính, phòng chống các tệ nạn xã hội... Nhờ tiếp xúc giao lưu với các tổ chức đoàn thể, cơ quan, học sinh được tiếp nhận thêm những “kênh” thông tin mới, những kiến thức cập nhật về đời sống xã hội, các em sẽ sớm trưởng thành hơn để càng tự, tin vững vàng bước vào cuộc sống sau khi ra trường.

3.4. Biện pháp 4: Quản lý có sở vật chất , ứng dụng CNTT và sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại.

          * Mục tiêu của biện pháp

          Cơ sở vật chất trong trường học là thành tố không thể thiếu trong quá trình dạy học và giáo dục. Sử dụng cơ sở vật chất, nhất là các trang thiết bị dạy học hiện đại vừa là yêu cầu, vừa là biện pháp góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng dạy học, tạo điều kiện cho học sinh nói chung, học sinh trường chuyên biệt nói riêng phát huy được năng lực tư duy, khả năng sáng tạo trong học tập và nhanh chóng thích hợp với nền kinh tế thị trường của xã hội.

          Trong thời đại công nghệ 4.0  Giáo viên và học sinh phải nâng cao sự hiểu biết để cập nhập kiến thức, thông tin,  khả năng sử dụng ứng dụng CNTT và các phương tiện thiết bị tiên tiến, hiện đại vào giảng dạy, học tập. Biện pháp này là rất cần thiết vì nó tạo điều kiện để nhà trường nâng cao chất lượng dạy học, đạt được mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường.

          * Nội dung và cách tiến hành

          Lãnh đạo nhà trường làm tốt công tác tham mưu với UBND huyện và Phòng Giáo dục - Đào tạo để tăng cường đầu tư cho xây dựng cơ sở vật chất nhà trường và bổ sung các trang thiêt bị dạy học hiện đại.

          Cần phát huy sức mạnh của nhà trường và tranh thủ sự tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tăng cường cơ sở vật chất phục vụ tốt cho nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi - nguồn nhân lực dồi dào và đầy tiềm năng của địa phương, của đất nước.

          Trong thời đại công nghệ 4.0  nhà trường cần huy động các nguồn lực để sửa chữa, nâng cấp các phòng học, phòng chức năng, sân chơi, bãi tập.. .hiện có; sửa chữa những dụng cụ hỏng, cải tiến các đồ dùng dạy học cũ; thanh lý bớt những trang thiết bị cũ kỹ, lạc hậu, tồn kho nhiều năm. Ưu tiên mua sắm các trang thiết bị dạy học, đồ dùng thí nghiệm hiện đại, có chất lượng cao phù hợp với nội dung chương trình và yêu cầu đào tạo

          Chỉ đạo và khuyến khích giáo viên, học sinh sưu tầm các mẫu vật tự nhiên, bổ ích cho việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học (đối với các môn sinh vật, lịch sử, địa lý, vật lý, hoá học...). Các tổ chuyên môn tổ chức phong trào tự làm các đồ dùng dạy học và thực hành bằng những phương tiện kỹ thuật hiện đại; từng bước áp dụng rộng rãi và có hiệu quả công nghệ thông tin tiên tiến vào qúa trình dạy học.

          Đưa tin học vào nhà trường và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông vào quá trình dạy học là một trong những giải pháp có tính đột phá nhằm tiếp nhận và cập nhật lĩnh vực kiến thức cần thiết, quan trọng cho mọi người. Điều này trở thành một nhiệm vụ cấp thiết của công tác quản lý trường học, nhất là ở trường PTDTNT  hiện nay. Bởi vì nó sẽ góp phần đổi mới cơ bản phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực trong nhận thức, chủ động, sáng tạo của học sinh; phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu, tự đánh giá. Muốn làm được điều này, Ban giám hiệu nhà trường phải có sự chuyển hướng trong nhận thức và chỉ đạo đối mới phương pháp dạy học của giáo viên, học tập của học sinh; nghiên cứu các phương án dạy tin học thích hợp cho mỗi đối tượng; bố trí thời gian hợp lí và cơ sở vật chất cần thiết cho việc học tập tin học và ứng dụng công nghệ thông tin, phương tiện dạy học hiện đại. Hướng dẫn, động viên giáo viên ứng dụng vào các khâu của quá trình dạy học: Soạn bài, sử dụng phần mềm hỗ trợ dạy học, kiểm tra, đánh giá, khai thác nguồn tư liệu qua Internet; hỗ trợ hoạt động của học sinh theo định hướng xây dựng “ môi trường học tập giàu công nghệ” trong nhà trường. Tổ chức thí điểm để các giáo viên tự xây dựng và thực hiện giảng dạy với các phần mềm. Xây dựng chương trình, biên soạn tài liệu và tiến hành bồi dưỡng thường xuyên về tin học cho giáo viên dạy tin học, cho giáo viên các bộ môn khác và cho cán bộ quản lý. Dành kinh phí và tranh thủ hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân cho việc đầu tư xây dựng các phòng máy tính, phòng học đa năng, các thiết bị truyền thông phục vụ đổi mới phương pháp dạy học. Có chế độ khen thưởng đối với những giáo viên, học sinh có sự tích cực, sáng tạo trong hoạt động, công tác này.

Chỉ đạo và kiểm tra chặt chẽ việc quản lý, sử dụng các trang thiết bị dạy học hiện có, đảm bảo nguyên tắc: Sử dụng đúng mục đích, đúng lúc, đúng chỗ; sử dụng một cách khoa học.

Thường xuyên trưng cầu ý kiến các tổ chuyên môn về mua sắm sách tham khảo, các đồ dùng cần thiết cho từng môn học, tổ chức cho các tổ trưởng chuyên môn, các giáo viên phụ trách thí nghiệm, thư viện và cán bộ quản lý nhà trường đi học tập kinh nghiệm các trường bạn về công tác quản lý cơ sở vật chất và sử dụng phương tiện kỹ thuật tiên tiến đại vào giảng dạy.

3.5 Biện pháp 5: Đổi  mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên và kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện.

* Mục tiêu của biện pháp

Kiểm tra, đánh giá là một chức năng của hoạt động quản lý, nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý hoạt động dạy học của nhà trường, trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên cũng như kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của học sinh.

Việc kiểm tra đánh giá này phải được thực hiện cả hai phía: Hoạt động giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh. Đặc biệt tăng cường đổi mới công tác này, cán bộ quản lý không chỉ đơn thuần là ghi nhận thực trạng thực hiện chương trình, kế hoạch, tiến độ giảng dạy, mức độ hoàn thành công việc của giáo viên cũng như kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh trong quá trình dạy học và giáo dục, mà còn đề xuất những cách thức, quyết định để cải tạo thực trạng, nâng cao chất lượng giáo dục; khắc phục có hiệu qủa nhiệm vụ giáo dục toàn diện của nhà trường.

* Nội dung và cách tiến hành

- Đối với công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên:

Chỉ đạo và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy chế, quy trình ở các khâu ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh; đảm bảo khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh.

Chú trọng đánh giá thường xuyên đối với tất cả học sinh: đánh giá qua các hoạt động trên lớp; đánh giá qua hồ sơ học tập, vở học tập; đánh giá qua việc học sinh báo cáo kết quả thực hiện một dự án học tập, nghiên cứu khoa học kĩ thuật, báo cáo kết quả thực hành, thí nghiệm; đánh giá qua bài thuyết trình (bài viết, bài trình chiếu, video…) về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập.

Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề kiểm tra 1 tiết, cuối học kì theo ma trận và viết câu hỏi phục vụ ma trận đề. Đề kiểm tra bao gồm các câu hỏi, bài tập (kết hợp hợp lý tự luận với trắc nghiệm) theo 4 mức độ yêu cầu (Nhận biết, thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao). Căn cứ vào mức độ phát triển năng lực của học sinh, giáo viên và nhà trường xác định tỉ lệ các câu hỏi, bài tập theo 4 mức độ yêu cầu trong các bài kiểm tra trên nguyên tắc đảm bảo sự phù hợp với đối tượng học sinh và tăng dần tỉ lệ các câu hỏi, bài tập ở mức độ yêu cầu vận dụng, vận dụng cao.

Tăng cường xây dựng câu hỏi, bài tập kiểm tra theo định hướng phát triển năng lực để bổ sung cho thư viện câu hỏi của nhà trường; xây dựng nguồn học liệu mở (thư viện học liệu) về câu hỏi, bài tập, kế hoạch bài học, tài liệu tham khảo có chất lượng trên trang mạng "Trường học kết nối".

- Đối với việc kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của học sinh:

Đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện, kết quả học tập của học sinh; thấy được những tác động và nguyên nhân của tình hình đó, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên và cán bộ quản lý nhà trường; giúp học sinh học tập ngày càng tốt hơn, nâng cao chất lượng học tập hơn.

Do cơ chế thị trường và sự tác động của xã hội, học sinh học lệch, học thực dụng; từ cha mẹ học sinh đến phần lớn giáo viên thính thành tích. Kết quả đánh giá chưa phản ánh đúng thực chất năng lực học tập, ý thức rèn luyện, trình độ tư duy, sáng tạo, tích cực... của học sinh. Vì thế đánh giá kết quả học tập một cách công khai, công bằng, khách quan là đòn bẩy xuyên suốt quá trình dạy học, đưa chất lượng giáo dục đi lên một cách bền vững. Đổi mới công tác này, Hiệu trưởng và hội đồng giáo dục nhà trường phải chuyển biến căn bản về tư duy đánh giá chất lượng giáo dục, phải kiên quyết chống bệnh chạy theo thành tích.

Quy trình quản lý thi và kiểm tra có thể theo các yêu cầu và các bước sau:

+ Thành lập ngân hàng đề thi và sử dụng đề  cho cho mỗi bài kiểm tra ở tất cả các môn học  trong các kỳ kiểm tra đánh giá: đánh giá đầu vào, chất lượng học tập đầu năm và cuối kỳ. Yêu cầu tất cả giáo viên dạy ở mỗi khối lớp và tất cả các bộ môn đều phải coi thi nghiêm túc, chấm thi chéo lớp; ban giám hiệu dọc phách, kiểm tra kết quả.

+ Thực hiện chấm bài chéo: bài kiểm tra kèm theo đáp án được phát cho giáo viên chấm chéo, kết quả chấm thi phải được tổ trưởng, hiệu trưởng kiểm tra xác suất, nếu thấy việc chấm thi không chính xác cho giáo viên khác chấm lại.

+ Các trường có điều kiện nên cải tiến việc tổ chức kiểm tra đánh giá bằng phương pháp trắc nghiệm khách quan vì có những ưu thế so với phương pháp tự luận đang sử dụng.

+ Giao cho giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm kịp thời thông báo kết quả đến tận học sinh và gia đình học sinh.

+ Xử lý kết quả: làm cơ sở đánh giá xếp loại cuối kỳ, cuối năm. Việc phân loại học sinh chính xác giúp hiệu trưởng nhà trường có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi và xét học bổng cho những học sinh có thành tích xuất sắc

3.6 Biện pháp 6:Thực hiện chế độ, chính sách đối với học sinh DTTS, nhà giáo và cán bộ quản lý công tác ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

* Mục tiêu của biện pháp

Tiếp tục thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý công tác ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS giáo viên dạy tiếng, chữ dân tộc thiểu số.

Thực hiện chính sách hỗ trợ học sinh theo Nghị định số 57/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ và các chính sách hiện hành đối với học sinh, sinh viên người DTTS; Thông tư số 109/2009/ TTLT/BTC-BGDĐT ngày 29 tháng 5 năm 2009 của Bộ tài chính – Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn một số chế độ tài chính đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú và các trường dự bị đại học dân tộc

 

* Nội dung và cách tiến hành

Thực hiện quản lí nhà trường theo Thông tư số 01/TT- BGDĐT  ngày 15 tháng 1 năm 2016 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Về việc Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú

Tích cực tham mưu với các cấp có thẩm quyền ban hành chính sách phát triển giáo dục, đào tạo trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS của địa phương.

Phát hiện những khó khăn, bất cập trong việc thực hiện các chính sách phát triển giáo dục và đào tạo trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS để kịp thời đề xuất điều chỉnh, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới.

Tích cực tham gia đóng góp ý kiến cho các văn bản (trong quá trình dự thảo) ban hành chính sách phát triển giáo dục và đào tạo trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

 

4. Hiệu quả của việc áp dụng các Biện pháp Quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường PTDTNT THCS  huyện Lục Yên.

Sau khi nghiên cứu và thực nghiệm sáng kiến từ tháng 9/2016  đến tháng 12/2018, tôi thấy việc áp các biện pháp quản lí hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Trung học cơ sở huyện Lục Yên đã có hiệu quả rõ rệt so với khi chưa áp dụng.

        Kết quả là sau một năm học áp dụng sáng kiến tại 03 đơn vị: Trường PTDTNT THCS Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên. tôi nhận thấy kết quả hai mặt giáo dục của các trường trong năm học 2017-2018 tăng đáng kể cụ thể như sau:

        Trường PTDTNT THCS Lục Yên.

Tổng số lớp

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

 

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

 

8

 

276

 

237

 

20

 

9

 

0

 

31

 

213

 

32

 

0

 

Trường PTDTNT THCS Yên Bình.

Tổng số lớp

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

Yếu

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Trường PTDTNT THCS Trấn Yên.

Tổng số lớp

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

Yếu

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

8

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận.

Công tác quản lý hoạt động dạy học có vai trò quyết định chất lượng Giáo dục - Đào tạo trong mọi nhà trường. Đổi mới QLGD là một trong những yêu cầu và giải pháp lớn để phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Đổi mới công tác quản lý hoạt động dạy học trong các trường phổ thông nói chung,và đổi mới quản lý hoạt động dạy học cho học sinh dân tộc thiểu nói riêng, không chỉ là trách nhiệm của cán bộ quản lý mà còn là mối quân tâm của toàn xã hội.

Ở trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên, việc nâng cao chất lượng dạy học gắn liền với việc thực hiện tốt nhiệm vụ bồi dưỡng nhân tài và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao cho địa phương vùng đồng bàn dân tộc thiểu số. Để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường thì các biện pháp tăng cường quản lý giảng dạy của giáo viên là hết sức quan trọng, nhưng không thể tách rời với quản lý học tập của học sinh. Bởi lẽ học sinh là đối tượng trung tâm của quá trình dạy học và cũng là sản phẩm cuối cùng của công tác quản lý nhà trường. Người quản lý phải quan tâm thực hiện đồng bộ các biện pháp tăng cường quản lý hoạt động chuyên môn của giáo viên cùng với  việc quản lý hoạt động học tập của học sinh thì mới đạt được mục tiêu đề ra.

Sáng kiến đã cố gắng nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về QL, QLGD, QL nhà trường, các biện pháp QL hoạt động dạy học, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động dạy học, những yêu cầu của xã hội và xu thế phát triển trường PTDTNT THCS, nhất là những nét đặc thù, chuyên biệt trong nhiệm vụ giáo dục toàn diện và đào tạo học giỏi, cùng các biện pháp quản lý dạy - học của giáo viên, học sinh trường chuyên biệt trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước.

Sáng kiến đã tiến hành nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học của trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên – Yên Bái. Chúng tôi có thể rút ra kết luận rằng: Cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên và học sinh đã nhận thức được vị trí, vai trò, nhiệm vụ dạy - học và mục tiêu giáo dục - đào tạo của một trường chuyên biệt. BGH nhà trường đã xây dựng được một hệ thống biện pháp quản lý và tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất trong giảng dạy và giáo dục đạo đức, nhân cách học sinh. Tuy nhiên, trong tình hình thực tế hiện nay của nhà trường, còn có những biện pháp chưa đạt được hiệu quả như mong muốn.

Xuất phát từ thực trạng QL của nhà trường, từ yêu cầu đổi mới, phát triển GD - ĐT đáp ứng được những vấn đề đặt ra của nền kinh tế tri thức; căn cứ vào đặc điểm của trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên, bản thân tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học của BGH, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giáo dục - đào tạo toàn diện học sinh chuyên, góp phần bồi dưỡng và đào tạo nhân tài cho đất nước trong thời kỳ CNH - HĐH. Các biện pháp đó là:

- Nâng cao năng lực quản lý và trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, giáo viên trường PTDTNT THCS huyện Lục Yên.

- Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và rèn luyện phương pháp tự học của học sinh trường PTDT Nội trú.

- Tăng cường chỉ đạo giáo dục toàn diện cho học sinh trường PTDT Nội trú.

- Quản lý có sở vật chất , ứng dụng CNTT và sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học hiện đại.

- Đổi  mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên và kết quả học tập của học sinh dân tộc thiểu số nhằm nâng cao chất lượng toàn diện.

- Thực hiện chế độ, chính sách đối với học sinh DTTS, nhà giáo và cán bộ quản lý công tác ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

2. Kiến nghị

2.1. Đối với Sở Giáo dục - Đào tạo Yên Bái

- Tạo điều kiện tốt nhất để nhà trường thực hiện được kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS, để giáo viên và học sinh được đi thực tế học tập và nghiên cứu khoa học, giao lưu học hỏi các trường trong và ngoài tỉnh

- Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra - đánh giá hoạt động dạy học của các  trường, nhất là ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

- Có chế độ khen thưởng thoả đáng những giáo viên và học sinh có thành tích cao trong giảng dạy, học tập, đặc biệt là trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

2.2. Đối với Phòng Giáo dục - Đào tạo

- Có kế hoạch, chương trình cụ thể bồi dưỡng năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, giáo viên. Bố trí, sử dụng hợp lí đối với những giáo viên sau khi được đào tạo ở trình độ cao.

- Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra - đánh giá hoạt động dạy học của các  trường, nhất là ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

- Có chế độ khen thưởng thoả đáng những giáo viên và học sinh có thành tích cao trong giảng dạy, học tập, đặc biệt là trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

- Thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ hơn công tác tuyển sinh vào lớp 6, giúp nhà trường tuyển chọn được nhiều học sinh năng khiếu, học sinh khá, giỏi

- Chỉ đạo và tổ chức thi tuyển những giáo viên có phẩm chất tốt, thực sự giỏi về giảng dạy ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

2.3 Đối với các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở

- Cần tham mưu và phối hợp với các cấp lãnh đạo, các cơ quan hữu quan để động viên, khích lệ những giáo viên có điều kiện đi học ở trình độ cao (về thời gian, kinh phí và một số chính sách ưu đãi khác).

- Làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, nhất là sự quan tâm phối hợp giáo dục của phụ huynh học sinh

          - Tạo điều kiện về quỹ thời gian, kinh phí cho các hoạt động giáo dục

góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh.

- Có chế độ khen thưởng thoả đáng những giáo viên và học sinh có thành tích cao trong giảng dạy, học tập, đặc biệt là trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi.

- Phối hợp thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ công tác tuyển sinh vào lớp 6.

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Đặng Quốc Bảo. Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay. NXB ĐHQG Hà Nội, năm 1996.

2.Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng. Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004.

3.Bộ Giáo dục & Đào tạo. Điều lệ trường trung học cơ sở

4. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Cơ sở khoa học quản lý, khoa Sư phạm ĐHQG, Hà Nội. Những quan điểm giáo dục hiện đại, tập bài giảng ở khoa Sư phạm, ĐHQG Hà Nội.

5.Hà Nhật Thăng. Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999.

6. Báo cáo tổng kết năm học của các trường: PTDTNT THCS huyện Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên.


Tác giả: Trần Đình Vũ
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết