Thursday, 21/01/2021 - 12:49|
Cổng thông tin điện tử trường Phổ Thông Dân Tộc Nội Trú THCS huyện Lục Yên
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay

 

PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài

Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, với những bước tiến nhảy vọt của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống vật chất và tinh thần của xã hội; kinh tế tri thức ngày càng đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất. Đó là những cơ hội và cũng là những thách thức lớn cho mọi quốc gia. Trong bối cảnh đó, giáo dục được xem là một trong những nhân tố quyết định tương lai của các dân tộc. Điều đó đòi hỏi giáo dục phải phù hợp với thời đại. Hầu hết các nước trên thế giới đã và đang tiến hành cải cách giáo dục, nhằm đáp ứng một cách năng động, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu phát triển đất nước.

Nghị quyết Số: 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ  Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở Giáo dục và Đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.

Chất lượng giáo dục là vấn đề quan trọng hàng đầu của hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục phản ánh mức độ thực hiện mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp giáo dục, quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục. Chất lượng giáo dục không tốt thì mục tiêu giáo dục không đạt được. Trong thời gian gần đây, chất lượng giáo dục đã được sự quan tâm, chú ý của mọi người trong xã hội. Giáo dục ngày càng phát triển cả qui mô, phương thức giáo dục và mạng lưới các cơ sở giáo dục. Đối với công tác Giáo dục và Đào tạo thì đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính vì vậy, xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp là một trong những nhiệm vụ cấp thiết của ngành giáo dục và của tất cả các nhà trường.

Ở trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS, người GVCNL có vai trò hết sức quan trọng, vì lứa tuổi học sinh THCS từ 11 – 14 tuổi đang rất cần có sự giúp đỡ và định hướng của người lớn. Nếu không, với vốn kinh nghiệm sống ít ỏi của mình, các em sẽ khó tránh khỏi những ảnh hưởng không lành mạnh, nhất là mặt trái trong nền kinh tế thị trường như hiện nay ở nước ta.

Trước hết người GVCNL được coi là người thay mặt Hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo dục học sinh của một lớp học, là người gần gũi thân mật, là người hướng dẫn, chỉ đạo, khuyên nhủ học sinh mỗi khi các em gặp khó khăn.

GVCNL có trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động của tập thể lớp và tác động đến sự phát triển nhân cách của từng học sinh trong tập thể đó, chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục của lớp mình.

Để tổ chức các hoạt động giáo dục đạt kết quả, người GVCNL cần phải có một hệ thống các kỹ năng nhất định. Trong mỗi kỹ năng, họ phải thực hiện một chuỗi những thao tác và việc làm có quan hệ mật thiết với nhau. Vì vậy, đòi hỏi mỗi người phải cố gắng trau dồi, rèn luyện thường xuyên để thực hiện các kỹ năng một cách thành thạo.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý nhà trường, người Hiệu trưởng cần phải quan tâm đến đội ngũ GVCNL, đây là lực lượng chủ đạo trong công tác giáo dục đặc biệt là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường Nội trú.

Xây dựng đội ngũ GVCNL giỏi làm lực lượng nòng cốt là công tác có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở nhà trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS.

          Sự phát triển của nhà trường gắn liền với sự tiến bộ, trưởng thành của từng tập thể lớp học, gắn liền với sự tiến bộ và trưởng thành của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là các GVCNL. Chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường phụ thuộc phần lớn vào kết quả công tác giáo dục của từng giáo viên chủ nhiệm đối với lớp mà họ phụ trách. Công tác GVCNL là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các hoạt động của nhà trường phổ thông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Chất lượng giáo dục là chất lượng của sản phẩm  của nhà trường và chất lượng sản phẩm này phải đáp ứng yêu cầu sử dụng của xã hội trong từng thời kỳ.

          Với những lý do trên, tôi chọn Sáng kiến kinh nghiệm "Biện pháp quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trường Phổ thông Dân tộc Nội trú THCS ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay" để nghiên cứu.

2.Thời gian thực hiện và triển khai SKKN

          Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện và triển khai từ tháng 1/2017  đến tháng 3/2018.

 

PHẦN THỨ HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lí luận về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

1.1. Những khái niệm cơ bản của SKKN.

a. Giáo dục và Giáo dục toàn diện

          Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc của nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên. Các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra nhiều định nghĩa về giáo dục:

- Theo “Từ điển Giáo dục” (NXB Từ điển bách khoa): “Giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích , mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội”

- Theo Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Dũng: “Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội và sự xuất hiện hiện tượng giáo dục là một tất yếu lịch sử. Nó diễn ra theo cơ chế những thế hệ đi trước truyền lại cho những thế hệ đi sau những kinh nghiệm tích luỹ được và thế hệ sau tiếp thu nó làm phong phú thêm vốn kinh nghiệm đó. Chính nhờ cơ chế này những giá trị vật chất và những giá trị tinh thần của loài người không những không bị mai một đi mà điều quan trọng là lại được phát triển không ngừng”

Từ các định nghĩa trên, ta thấy giáo dục là một khái niệm cơ bản thường được dùng trong khoa học và thực tiễn đời sống xã hội. Ta có thể hiểu một cách chung nhất: Giáo dục là hoạt động chuyển giao hệ thống tri thức cho thế hệ sau nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách cá nhân – xã hội, đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội. Khái niệm giáo dục còn được phân nhỏ về ngoại diên và nội hàm thành các khái niệm: Giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội; về nội dung giáo dục thì có: Giáo dục ý thức công dân, giáo dục văn hoá- thẩm mỹ, giáo dục lao động, hướng nghiệp, giáo dục thể chất – quân sự, giáo dục môi trường, giáo dục dân số, giáo dục giới tính, giáo dục phòng chống ma tuý…

Giáo dục được coi là khởi nguồn của sự phát triển. Không có giáo dục thì không có bất cứ sự phát triển nào đối với con người, đối với kinh tế, văn hoá. Chính nhờ có giáo dục mà các di sản tư tưởng và kỹ thuật của các thế hệ trước được truyền lại cho thế hệ sau. Các di sản này được tích luỹ ngày càng phong phú làm cho xã hội phát triển.

Giáo dục toàn diện: Theo Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Đắc Hưng: “Giáo dục toàn diện là những biện pháp tổng thể của nhà trường, gia đình và xã hội tác động tới học sinh, sinh viên nhằm hình thành và phát triển tất cả các mặt: trí tuệ, đạo đức, sức khoẻ và nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và cuộc sống hạnh phúc của mỗi cá nhân. Giáo dục toàn diện trong nhà trường thường biểu hiện ở nội dung giáo dục bao gồm đầy đủ các mặt: đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục nghề nghiệp…phù hợp với điều kiện và đặc điểm đặc thù của từng cấp học, bậc học”

          “Thực hiện giáo dục toàn diện nhằm đào tạo những người lao động có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức, có tri thức văn hoá, có sức khỏe và có kỷ luật. “Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho học sinh sinh viên”. Giáo dục truyền thống cách mạng, văn hoá dân tộc xuyên suốt các hoạt động và mọi hình thức giáo dục. Ở đây, việc chú trọng cải tiến nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước phù hợp với từng bậc học, cấp học là hết sức quan trọng, quan tâm đến việc tăng cường học ngoại ngữ, tin học”

b. Quản lý, chức năng quản lý

Quản lý: Mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, bất luận tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao, đều cần đến hoạt động quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy hoạt động quản lý là gì ?

- Theo Đại từ điển tiếng Việt, quản lý là: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, một cơ quan: quản lý lao động, quản lý cán bộ, quản lý công việc’’ hoặc quản lý là: “Trông coi, giữ gìn, theo dõi việc gì: quản lý hồ sơ lý lịch, quản lý vật tư.”

- Quản lý có thể xét theo ngữ nghĩa: Quản lý = Quản + Lý, quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”, quá trình “” gồm sự sửa sang, sắp xếp đổi mới hệ vào thế “phát triển”. Nếu người đứng đầu tổ chức chỉ lo việc “Quản”, tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ, tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm đến việc “Lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định thì sự phát triển của tổ chức không bền vững. Trong “Quản” phải có “Lý”, trong “Lý” phải có “Quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)

Các định nghĩa khác:

- Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với qui luật khách quan.

- Hoạt động quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường tổ chức; là sự tác động điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý, lãnh đạo cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội.

Chức năng quản lý: Nhiều người đã khái quát hoá hoạt động quản lý thành một quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách thực hiện bốn chức năng:

+ Chức năng kế hoạch hóa.

+ Chức năng tổ chức.

+ Chức năng chỉ đạo thực hiện.

+ Chức năng kiểm tra đánh giá.

Bốn chức năng này được coi như  bốn công đoạn tạo nên  một chu trình quản lý. Các chức năng này có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen với nhau và đều cần đến thông tin quản lý. Ta có thể mô hình hóa hoạt động quản lý như một  chu trình với các chức năng đó như sau:

Sơ đồ 1: Chu trình quản lý

 

 

 

Trong lĩnh vực giáo dục, quản lý giáo dục có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Người quản lý cần phối hợp và sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lực và tin lực của tổ chức để đạt được mục tiêu giáo dục. Khái niệm "Quản lý giáo dục", chủ yếu có hai cấp độ: Cấp vĩ mô và cấp vi mô.

- Đối với cấp vĩ mô: Quản lý hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ sở giáo dục khác,...) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những qui luật chung của chủ nghĩa xã hội, cũng như của các qui luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em, thiếu niên và thanh niên.

- Đối với cấp vi mô: Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy – Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của Hệ thống giáo dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở.

Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường.

 Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ, với từng học sinh.

Tóm lại, quản lý trường học về bản chất là quản lý con người (tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh) và quản lý các nguồn lực cơ sở vật chất – thiết bị giáo dục của nhà trường. Do đó, có thể hiểu quản lý trường học là những tác động tối ưu của chủ thể quản lý (lãnh đạo trường học) đến giáo viên, học sinh và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn lực hướng vào đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường. Tiêu điểm là thúc đẩy quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong muốn.

d. Vai trò quản lý của Hiệu trưởng

-  Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận.

- Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học.

* Theo điều 19 của Điều lệ trường THCS Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

+ Tổ chức bộ máy nhà trường;

+ Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;

+ Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên;

+ Quản lý và giáo dục học sinh;

+ Quản lý hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường;

+ Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường;

+ Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành .

Trong các nhà trường cần xây dựng những mô hình quản lý có tính mềm dẻo, linh hoạt. Người giáo viên cần có cơ hội tương tác nhiều hơn với người đứng đầu nhà trường. Vì vậy, mô hình quản lý ''hợp tác" ''cộng tác" cần được hình thành và phát triển mạnh mẽ hơn, trên cơ sở tính năng động và sáng tạo của người Hiệu trưởng. Nhờ đó người Hiệu trưởng có thể đảm đương vai trò ''người lãnh đạo chuyên môn" và người quản lý cao nhất.

1.2. Nội dung công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và chức năng của giáo viên chủ nhiệm lớp ở Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở

a. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp trong nhà trường phổ thông.

Trong nhà trường phổ thông người GVCNL có vị trí, vai trò rất quan trọng:

- GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng thực hiện nguyên lí giáo dục của Đảng, Nhà nước và mục tiêu, kế hoạch của ngành giáo dục và đào tạo trong một lớp học - đơn vị cơ bản của nhà trường .

          - GVCNL là người trực tiếp quản lí giáo dục toàn diện học sinh trong một lớp học: cụ thể hoá mục tiêu, kế hoạch và chương trình hành động của nhà trường ở từng lớp học. GVCNL có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo, đôn đốc và kiểm tra các hoạt động của lớp mình, chịu trách nhiệm trước nhà trường và hội đồng nhà trường về chất lượng giáo dục toàn diện của lớp mình.

          - GVCNL là đầu mối của sự phối hợp trong việc hình thành và phát triển nhân cách của học sinh trong lớp học, thống nhất mối liên hệ và mọi tác động giáo dục, liên kết, phối hợp với giáo viên bộ môn, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác để thống nhất các biện pháp giáo dục học sinh trong lớp.

          - GVCNL là cầu nối giữa nhà trường và các lực lượng giáo dục khác với tập thể học sinh và mỗi cá nhân học sinh: truyền đạt và tổ chức thực hiện những kế hoạch, nội qui, nền nếp, các chỉ thị, yêu cầu của Hiệu trưởng đến từng học sinh trong lớp học. Đồng thời GVCNL cũng báo cáo cho Hiệu trưởng những thông tin từ phía học sinh, phản ánh kịp thời và đầy đủ diễn biến của tập thể học sinh và từng cá nhân học sinh về những tâm tư nguyện vọng, đề đạt kiến nghị của học sinh để giúp Hiệu trưởng quản lí có hiệu quả hơn.

          Người GVCNL trước hết phải thực hiện tốt nhiệm vụ của người thầy giáo nói chung đó là mẫu mực về đạo đức, gương mẫu chấp hành mọi chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, nắm vững mục tiêu giáo dục và đào tạo, kế hoạch và chương trình hoạt động của nhà trường (gồm mục tiêu cấp học, chỉ thị của ngành, chương trình giảng dạy các môn học, kế hoạch năm học của nhà trường, các văn bản hướng dẫn liên quan đến vấn đề giáo dục và dạy học) để có cơ sở xây dựng kế hoạch hoạt động của  bản thân nhằm đảm bảo hiệu quả giáo dục. Ngoài công tác chủ nhiệm lớp, người GVCNL còn đảm nhận giảng dạy một môn học ở lớp mình và các lớp khác do đó cần xác định rằng giảng dạy tốt là điều kiện cần thiết để tạo ra uy tín của người GVCNL trước tập thể và cá nhân học sinh, làm tăng hiệu quả của công tác GVCNL.    

b Nội dung và phương pháp công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

          Nắm vững học sinh một cách toàn diện là nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của mỗi học sinh, điều kiện hoàn cảnh gia đình của học sinh, những mối quan hệ của cá nhân học sinh, nắm vững tính cách và những hành vi đạo đức, trình độ, khả năng của học sinh, tìm hiểu những nhu cầu năng lực của học sinh…Qua đó người GVCNL có thể dự báo xu hướng phát triển nhân cách của từng học sinh trong lớp để có phương hướng tổ chức hoạt động giáo dục và dạy học phù hợp với điều kiện và khả năng của từng học sinh.

          - GVCNL cần thăm hỏi gia đình học sinh, tìm hiểu và trò chuyện với các bậc phụ huynh để nắm được những điều kiện ảnh hưởng tới học sinh. Việc tìm hiểu nắm vững hoàn cảnh sống nói chung của từng học sinh là hết sức quan trọng. Nó giúp GVCNL biết được nguyên nhân và các yếu tố tích cực hoặc tiêu cực, những thuận lợi hay khó khăn đang tác động đến học sinh. Đồng thời biết được phương pháp giáo dục của gia đình (tốt hay chưa tốt) để có thể tham mưu, tư vấn và phối hợp với gia đình lựa chọn phương pháp tác động phù hợp.

- Giáo viên chủ nhiệm lớp phối hợp với cha mẹ học sinh, Hội phụ huynh học sinh trong việc giáo dục

          Hội phụ huynh học sinh là một trong những lực lượng giáo dục có ảnh hưởng lớn đến quá trình học tập và rèn luyện của học sinh. Việc phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình là cần thiết và tạo ra những điều kiện thuận lợi để học sinh học tập và rèn luyện.

          Gia đình là môi trường giáo dục - lực lượng giáo dục đầu tiên, ảnh hưởng một cách sâu sắc đến học sinh. Vì vậy giáo dục gia đình trở thành một bộ phận quan trọng trong việc giáo dục học sinh. Giáo dục gia đình có những đặc trưng riêng, nên nhà trường phải liên kết với gia đình để đảm bảo tính thống nhất toàn vẹn của quá trình giáo dục, có như vậy thì giáo dục gia đình mới phát huy được ảnh hưởng và cùng với nhà trường giáo dục học sinh có hiệu quả. Chính GVCNL là người thay mặt nhà trường thực hiện sự liên kết này. GVCNL giúp cha mẹ học sinh hiểu rõ chủ trương, kế hoạch giáo dục của nhà trường và mục tiêu, kế hoạch phấn đấu của lớp trong từng năm học. Trên cơ sở đó, GVCNL thống nhất với gia đình về yêu cầu, nội dung, biện pháp, hình thức giáo dục. GVCNL cũng đề nghị gia đình tạo mọi điều kiện cần thiết để học sinh học tập, rèn luyện ở nhà theo mục tiêu giáo dục của nhà trường.

- Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc xây dựng tập thể học sinh: Tập thể học sinh trong nhà trường được coi là môi trường, phương tiện để giáo dục mỗi học sinh, trong đó mỗi thành viên đều có điều kiện để phát triển toàn diện. Tác dụng giáo dục của tập thể học sinh là rất lớn nếu ta xây dựng được những tập thể học sinh vững mạnh.

          - Giáo viên chủ nhiệm lớp với việc giáo dục mỗi cá nhân học sinh trong tập thể lớp: Sự trưởng thành của tập thể lớp có sự đóng góp của mỗi cá nhân học sinh trong tập thể ấy. Sự trưởng thành của mỗi cá nhân không thể tách rời sự trưởng thành của tập thể. Mục đích cuối cùng của toàn bộ quá trình giáo dục là hình thành nhân cách cho mỗi học sinh. Do đó giáo dục mỗi thành viên của tập thể lớp là một trong những nội dung công tác quan trọng của người GVCNL.

          - Giáo dục đạo đức, pháp luật và nhân văn cho học sinh: Tổ chức thi đua học tập, rèn luyện đạo đức trong học sinh; có kiểm tra, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng cá nhân, nhóm, tổ hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học. Tuỳ theo từng thời điểm và tình hình cụ thể của lớp, của trường, của địa phương, đất nước để chọn chủ đề phù hợp.

          - Tổ chức các hoạt động học tập nhằm phát triển nhận thức, trí tuệ học sinh: GVCNL thông qua tập thể lớp đề ra những yêu cầu học tập đối với các em, xây dựng dư luận tập thể lành mạnh, giúp các em xác định rõ nghĩa vụ học tập của mình, xác định được động cơ thái độ học tập đúng đắn, tích cực tìm tòi biện pháp hay, tốt để đạt kết quả học tập cao nhất.

          - Tổ chức các hoạt động giáo dục lao động và hướng nghiệp: căn cứ vào kế hoạch chung của nhà trường, dựa vào tình hình cụ thể của lớp, GVCNL cần xây dựng kế hoạch lao động cụ thể để giáo dục học sinh. Cần tổ chức các hoạt động này một cách hệ thống, vừa sức với học sinh để vừa có hiệu quả giáo dục vừa có hiệu quả kinh tế. GVCNL giúp các em tìm hiểu về nhu cầu nghề nghiệp của xã hội, của địa phương. Đối với học sinh lớp 12 cần hướng dẫn, giúp đỡ các em lựa chọn được nghề thích hợp với khả năng của các em và yêu cầu của xã hội. 

          - Tổ chức các hoạt động văn hoá văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí: GVCNL cần quan tâm cố vấn cho cán bộ lớp, cán bộ đoàn tổ chức cho cả lớp vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ như: các trò chơi, các hoạt động thể thao, văn nghệ, tham quan du lịch, cắm trại, xem triển lãm, xem phim tập thể, thi thanh lịch, thi tìm hiểu về văn hoá xã hội, tìm hiểu về truyền thống nhà trường, địa phương, hoạt động giao lưu văn hoá giữa các trường. Qua các hoạt động này giúp các em sảng khoái tinh thần, mở mang trí tuệ, phát triển thể chất, tăng cường sức khoẻ, hình thành các phẩm chất nhân cách cơ bản như: lòng yêu nước, yêu quê hương, tình cảm thầy trò, tinh thần tập thể, lòng nhân ái. Đồng thời hình thành các phẩm chất cá nhân: trung thực, kỷ luật, khiêm tốn, tự trọng, kiên trì, dũng cảm, lễ phép, lịch sự, tế nhị, biết tự kìm chế tạo điều kiện cho học sinh giao tiếp, hình thành ý thức, năng lực hoà nhập vào cộng đồng xã hội sau này.

c .Những yêu cầu đối với giáo viên chủ nhiệm lớp

          GVCNL là người giáo viên bộ môn, được hiệu trưởng phân công phụ trách quản lý một tập thể lớp về mọi mặt, do vậy người GVCNL trước hết phải có phẩm chất của người giáo viên (nhà sư phạm): có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng và năng lực vững vàng, có sức khoẻ tốt. GVCNL phải thực hiện các chức năng rất quan trọng là giáo dục học sinh lớp mình, góp phần hình thành nhân cách của học sinh, thực hiện mục tiêu giáo dục, do đó người GVCNL phải phấn đấu và rèn luyện mình theo các yêu cầu đặc trưng sau:

          - GVCNL phải có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn, có lập trường tư tưởng vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng.

          - GVCNL phải thật sự là người say mê, nhiệt tình với công tác chủ nhiệm, “tất cả vì học sinh thân yêu”, có lòng nhân ái rộng lớn, khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

          - GVCNL phải là người có chuyên môn vững vàng, có tay nghề cao.

- GVCNL phải có sự khéo léo đối xử sư phạm, phải có uy tín với học sinh và cha mẹ học sinh. 

- GVCNL không ngừng rèn luyện, hình thành những kỹ năng sau:

          Kỹ năng nắm vững học sinh và tập thể học sinh một cách toàn diện; kỹ năng tiếp cận đối tượng ( học sinh, phụ huynh, các đối tượng xã hội cần giao tiếp); năng lực cảm hoá, thuyết phục, xây dựng uy tín; kỹ năng kế hoạch hoá công tác GVCNL; kỹ năng tổ chức lãnh đạo mọi hoạt động tập thể; kỹ năng phối hợp với các lực lượng giáo dục học sinh.

1.3. Quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng trong nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

Trong nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, Hiệu trưởng là người đại diện chức trách hành chính, là người quản lý và lãnh đạo cộng đồng giáo dục, có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước nhà nước và nhân dân, tổ chức và quản lý mọi hoạt động của nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng.

          Với tư cách là nhà quản lý, người Hiệu trưởng có trách nhiệm quản lý mọi hoạt động của nhà trường, quản lý mọi tổ chức trong nhà trường. Hoạt động giáo dục của nhà trường chỉ có kết quả cao khi Hiệu trưởng biết huy động sự tham gia đồng bộ, nhịp nhàng ăn khớp của các bộ phận trong trường trong đó có đội ngũ GVCNL. Sự phát triển của nhà trường, chất lượng giáo dục và đào tạo toàn diện của nhà trường phải kể đến sự đóng góp đáng kể của đội ngũ GVCNL.

Đội ngũ GVCNL là lực lượng nòng cốt trong công tác giáo dục, là đội ngũ trợ lý quan trọng, trực tiếp quản lý toàn diện các lớp học sinh; Báo cáo cho hiệu trưởng những thông tin cần thiết về học sinh, về tập thể lớp, về các hoạt động giáo dục theo định kỳ và đột xuất. Chính họ biết khai thác và phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để thực hiện mục tiêu giáo dục của nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

a. Xác định mục tiêu và lập kế hoạch cho công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

Trong nhà trường, đơn vị tổ chức cơ bản để giảng dạy và học tập là lớp học. Để quản lý trực tiếp một lớp học nhà trường cử ra những giáo viên giỏi, nhiệt tình để làm chủ nhiệm lớp. GVCNL là người thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện một lớp học. GVCNL là nhân vật trung tâm, là linh hồn của lớp, tập hợp, đoàn kết học sinh trong tập thể, có vai trò lớn trong tổ chức mọi hoạt động của lớp, nhằm giáo dục học sinh. Họ chịu trách nhiệm trước nhà trường về chất lượng giáo dục toàn diện học sinh của mình.

          Sau khi xác định mục tiêu người Hiệu trưởng phải đưa ra các biện pháp cải tiến công tác GVCNL.

- Tổ chức trao đổi kinh nghiệm về công tác GVCNL.

- Qui định mối liên hệ thường xuyên giữa Ban giám hiệu với GVCNL (họp giao ban, định kỳ báo cáo,…)

          - Đề ra được qui chế hoạt động cho tổ GVCNL và từng GVCNL. Hiệu trưởng hướng dẫn GVCNL xây dựng nội dung công tác GVCNL, coi trọng hình thức, nội dung sinh hoạt, hoạt động tự quản; xây dựng tập thể lớp, chi đoàn vững mạnh toàn diện…Những nội dung thi đua thật cụ thể, chi tiết cho từng hoạt động, cho từng thời kỳ, từng nội dung thi đua.

          - Có kế hoạch chung của nhà trường về các hoạt động ngoại khoá, lao động, văn nghệ, thể dục thể thao… để GVCNL chủ động đề ra kế hoạch hoạt động của lớp mình.

          - Tạo điều kiện cho GVCNL được được rèn luyện về chuyên môn nghiệp vụ. Những yêu cầu công việc của người quản lý đưa ra phải có tính thực tế và cái đích cuối cùng của mọi công việc là phải có tác dụng giáo dục cao.

b. Bố trí đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp

          Việc phân công GVCNL đầu năm cần:

          -  Căn cứ vào qui mô nhà trường: số học sinh, số lớp, số giáo viên hiện có.

          - Phân lớp chủ nhiệm cho giáo viên phải có giờ dạy trên lớp, ưu tiên môn có nhiều giờ.

          - Cố gắng đảm bảo cho GVCNL theo liên tục bốn năm liền đối với một lớp, trường hợp đặc biệt mới thay GVCNL.

          - Đối với lớp mũi nhọn của nhà trường phải bố trí GVCNL là người có chuyên môn vững vàng, phải dạy môn được chú ý đầu tư ở lớp đó.

          - Đối với những lớp có học sinh "cá biệt", có nhiều học sinh yếu thì  bố trí GVCNL cứng rắn, giàu kinh nghiệm trong công tác giáo dục, có những phẩm chất như : nhiệt tình, chu đáo, tỉ mỉ…

c. Động viên và theo dõi công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

- Một trong những việc làm cần thiết của Hiệu trưởng nhà trường là phải phát động các phong trào thi đua trong nhà trường một cách thường xuyên, liên tục, sôi nổi mang lại hiệu quả cho công tác giáo dục. Hiệu trưởng cần xây dựng được những chỉ tiêu, tiêu chí, lượng hoá tối đa các nội dung cho cả năm học, cho từng kỳ, cho từng đợt thi đua phù hợp với đối tượng học sinh ở các khối lớp để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá chính xác, công bằng.

          - Sau mỗi đợt thi đua, sau mỗi học kỳ, cuối năm học có sơ kết tổng kết đánh giá và vạch ra được mặt mạnh, mặt yếu để có phương hướng phấn đấu, khắc phục. Hiệu trưởng cần coi trọng đúng mức việc tuyên dương, khen thưởng đối với những lớp có thành tích, những cá nhân học sinh có tiến bộ, có nhiều thành tích.

- Phải nhìn nhận, đánh giá công lao của các GVCNL một cách công bằng, khen chê kịp thời.

          - Kịp thời động viên, khuyến khích đội ngũ GVCNL khi họ đạt được kết quả tốt trong công tác.

- Kịp thời uốn nắn những lệch lạc, sai sót trong công tác giúp họ vượt qua những khó khăn gặp phải và tạo các điều kiện cần thiết để GVCNL hoàn thành nhiệm vụ.

          - Quan tâm, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần cho các hoạt động thuộc công tác GVCNL. Tạo điều kiện để các đoàn thể hoạt động phát huy hết tác dụng đối với nhà trường.

          d. Kiểm tra công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

          Chất lượng văn hoá được thể hiện khá cụ thể, rõ ràng, song chất lượng giáo dục đạo đức khó định lượng, khó đánh giá. Do vậy việc kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL của Hiệu trưởng sao cho khách quan, khoa học, có hiệu quả là vấn đề cần được lưu ý, hiệu trưởng cần kiểm tra thường xuyên (đột xuất, định kỳ), kiểm tra phải có đánh giá. Hiệu trưởng kiểm tra công tác GVCNL thông qua hoạt động của các lớp, thông qua xếp loại thi đua hàng tuần, thông qua hồ sơ, báo cáo hàng tháng, học kỳ…, cần lưu ý việc  kiểm tra đánh giá học sinh của GVCNL sao cho đảm bảo sự thống nhất chung trong toàn trường (tránh trường hợp GVCNL quá dễ dãi hoặc quá khắt khe,…), hướng dẫn GVCNL đánh giá hạnh kiểm học sinh sát với các tiêu chí chung.

2. Thực trạng về về công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp và việc Quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, xã hội của tỉnh Yên Bái 

Yên Bái thuộc vùng Tây Bắc của Tổ quốc với 30 dân tộc chung sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm gần 60%, đông là dân tộc Tày, Dao, Mông, Thái. Yên Bái có 81 xã trên 180 xã, phường, thị trấn thuộc vùng đặc biệt khó khăn, 2 huyện thuộc diện nghèo nhất cả nước. Đại hội Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVIII (2015) đã xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp của ngành giáo dục Yên Bái là “Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; ưu tiên phát triển giáo dục mũi nhọn và giáo dục vùng cao”.

Yên Bái có tiềm năng về đất đai, tài nguyên rừng, khoáng sản đa dạng, phong phú. Trong đó có một số khoáng sản có trữ lượng lớn như đá quý, đá hoa trắng ở Lục Yên, đá vôi xám ở Lục Yên, Yên bình làm nguyên liệu cho sản xuất xi măng, nguyên liệu gốm sứ (Fenlspát, cao lanh..), quặng sắt ở Văn Yên, Trấn Yên và Văn Chấn

Nền kinh tế Yên Bái đang dịch chuyển theo hướng công nghiệp hoá. Từ năm 2010 đến nay tỷ trọng nông, lâm công nghiệp tăng mạnh. Các vấn đề kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng tiếp tục được phát triển theo chiều hướng tích cực.

2.2. Một số nét khái quát về Giáo dục và Đào tạo hệ thống trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Từ thập niên 90 đến nay, dưới sự định hướng, lãnh đạo toàn diện của cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp; được sự quan tâm sâu sắc, sự phối hợp và tạo điều kiện của các ban ngành, các tổ chức đoàn thể; hệ thống các trường PTDTNT đã được đầu tư: Cơ sở vật chất khang trang, cơ bản đáp ứng được nhu cầu ăn, ở, học tập cho con em đồng bào các dân tộc của tỉnh Yên Bái. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đảm bảo đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu.

Các trường PTDTNT chú trọng công tác tổ chức dạy học nâng cao chất lượng, quán triệt mục tiêu giáo dục toàn diện, đổi mới phương pháp, nâng cao năng lực chuyên môn, yêu thương và tôn trọng học sinh, trách nhiệm trước nhiệm vụ vẻ vang của sự nghiệp “trồng người”. Các trường tổ chức triển khai việc giáo dục hướng nghiệp, giáo dục nghề phổ thông cho 100% học sinh lớp cuối cấp; các hoạt động lao động, văn hoá, thể thao và tổ chức đời sống nội trú cho học sinh phù hợp với tính chất đặc thù của trường như: sinh hoạt văn nghệ, thể dục thể thao; các trò chơi dân gian, các hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, chủ điểm tháng... Chú trọng công tác giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng lao động thông qua sinh hoạt tập thể, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Tổ chức nấu ăn 3 bữa/ngày cho học sinh, quản lý tốt học sinh ở nội trú 24/24 giờ; duy trì việc thực hiện nội quy nền nếp theo quy định. Với những hoạt động đó, các trường PTDTNT từng bước khẳng định vị trí là trung tâm chất lượng quan trọng trong hệ thống giáo dục dân tộc của tỉnh, là nơi tạo nguồn nhân lực chất lượng cho vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.

Đến năm học 2017 - 2018, toàn tỉnh có 9 trường PTDTNT với 88 lớp, 2.981 học sinh, trong đó có 7 trường trung học cơ sở, 64 lớp, 2.109 học sinh; học sinh người dân tộc thiểu số cấp THCS, được học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú chiếm tỷ lệ 7,12%. Trong tổng số 7 trường PTDTNT THCS có 06 trường đạt Chuẩn Quốc gia: Trường PTDTNT THCS huyện Yên Bình, Văn Chấn, Lục Yên, Trạm Tấu, Mù Cang Chải, Văn Yên. Trong các kỳ thi học sinh giỏi các trường PTDTNT trong tỉnh đạt hàng trăm giải học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp huyện.

2.3. Thực trạng về công tác giáo viên chủ nhiệm lớp và việc quản lý công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái.

Qua nghiên cứu thực trạng về công tác GVCNL và việc quản lý công tác GVCNL ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Chúng tôi thấy mặc dù có nhiều  thuận lợi và ưu điểm nhưng cũng còn nhiều khó khăn, bất cập:

a. Những thuận lợi và ưu điểm

          - Khi nhận lớp, GVCNL đều tìm hiểu học sinh về mặt chất lượng học tập, rèn luyện ở lớp dưới, hoàn cảnh gia đình, nhu cầu, khả năng, đặc điểm của từng học sinh. Từ đó xây dựng kế hoạch công tác GVCNL và đưa vào sổ chủ nhiệm của GVCNL.

          - Các GVCNL đều quan tâm, thực hiện đủ các chương trình giáo dục chung như: Thực hiện nền nếp các tiết học, các tiết ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động của học sinh, các tiết sinh hoạt cuối tuần…

          - GVCNL đều có kế hoạch giáo dục học sinh cá biệt và thực hiện có hiệu quả.

          - GVCNL phối hợp với cha mẹ học sinh để quản lý, giáo dục học sinh thông qua các buổi họp cha mẹ học sinh. Cuối mỗi kỳ, GVCNL thông báo tình hình học tập, rèn luyện của mỗi học sinh và tình hình chung của lớp cho cha mẹ học sinh và nhận được những thông tin cần thiết của học sinh từ gia đình.

          - GVCNL đã thực hiện tốt chủ trương dân chủ hoá trường học, công khai nội dung chương trình giáo dục và đào tạo, công khai việc cho điểm, đánh giá, công khai kết quả thi đua, khen thưởng, kỷ luật học sinh; đặc biệt thực hiện tốt các qui trình đánh giá xếp loại về hạnh kiểm, văn hoá của học sinh, tôn trọng ý kiến thể lớp. GVCNL đã phát huy vai trò của cán bộ lớp trong việc tổ chức tự quản của học sinh, đặc biệt giúp các em tổ chức các hoạt động tập thể ngoài giờ, hoạt động nhân đạo…

          - Những hình thức khen thưởng được GVCNL sử dụng kịp thời đã tác động mạnh mẽ đến học sinh. Đó là động lực thúc đẩy sự cố gắng vươn lên ở học sinh, kích thích ở các em động cơ phấn đấu đúng đắn, tin tưởng vào khả năng của bản thân.

          - Một yếu tố rất quan trọng nữa đòi hỏi ở người thầy làm công tác chủ nhiệm lớp là: Thầy phải luôn khách quan, công bằng trong việc đánh giá học sinh. Điều này vô cùng quan trọng, vì trong con mắt học sinh thầy bao giờ cũng là tấm gương sáng để học sinh noi theo.

- Về mặt quản lý, các trường  Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái đều nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác GVCNL. Các trường đều ưu tiên cho công tác GVCNL; khi phân công chuyên môn đều căn cứ vào khả năng quản lý, chuyên môn của giáo viên, mỗi trường đều thành lập tổ GVCNL do Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng trực tiếp quản lý có nghị quyết và kế hoạch hoạt động riêng cho tổ GVCNL.

          - Kết quả công tác GVCNL là một trong những nội dung chính được dùng để đánh giá, xếp loại thi đua của giáo viên trong năm học và trong công tác kiểm tra, thanh tra của các cấp quản lý giáo dục.

b. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Ở các trường  Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái, ngoài việc học tập, trau dồi và chiếm lĩnh tri thức còn có các hoạt động ngoài giờ, vui chơi, giải trí, ăn, ở, ngủ, nghỉ tại trường. Nhưng hiện nay vì nhiều lý do khách quan (kinh phí, thời gian, công tác quản lý học sinh,…) nên việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp không được các nhà trường, GVCNL quan tâm  tổ chức thường xuyên.

          - Mối quan hệ giữa GVCNL với học sinh trong lớp còn có những khoảng cách nhất định, GVCNL chưa thực sự  gần gũi, quan tâm đến tất cả các học sinh trong lớp. Do điều kiện của tỉnh miền núi, gia đình học sinh ở xa trường, đường xá đi lại khó khăn nên việc đến thăm gia đình học sinh của GVCNL còn hạn chế, vì vậy sự phối kết hợp giữa GVCNL với gia đình học sinh chưa thường xuyên. Thường thì GVCNL chỉ gặp cha( mẹ) học sinh thông qua các kỳ họp phụ huynh đầu năm học, cuối kỳ một và kết thúc năm học, nhưng không phải gia đình nào cũng đi họp đầy đủ, có những gia đình gần như phó mặc con cho nhà trường, GVCNL...

- Một hạn chế cần nhắc đến là những hình thức xử phạt học sinh ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái còn nhiều bất cập. Như  áp dụng những hình phạt quá khắt khe, xử phạt nặng những khuyết điểm nhỏ của học sinh. Những hình phạt đó không những không đem lại tác dụng tích cực, thúc đẩy học sinh tiến bộ, nhiều khi còn phản tác dụng giáo dục, tạo nên ấn tượng không tốt trong ý thức học sinh và phụ huynh học sinh.

          - Một bộ phận GVCNL thiếu nhiệt tình, việc quản lý giáo dục học sinh còn xem nhẹ, sự phối kết hợp giữa GVCNL với các lực lượng giáo dục trong xã hội chưa chặt chẽ do đó công tác quản lý giáo dục học sinh còn gặp nhiều khó khăn. Một số ít giáo viên đánh giá học sinh chưa công bằng, một số GVCNL chưa thực sự là “tấm gương sáng" cho học sinh noi theo, do đó hiệu quả công tác GVCNL không cao. Một số trường còn thiếu giáo viên, nhân viên nên việc lựa chọn GVCNL gặp khó khăn, GVCNL phải dạy nhiều giờ, do đó không dành nhiều thời gian và công sức cho công tác chủ nhiệm lớp.

- Hiện nay ở nhiều trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái điều kiện làm việc của GVCNL còn chưa được đảm bảo (cơ sở vật chất còn thiếu thốn, kinh phí đầu tư cho hoạt động ngoài giờ còn nghèo nàn). Một số Ban giám hiệu chưa coi trọng đúng mức công tác GVCNL, chưa biết phát huy tác dụng hoặc chưa quan tâm giúp đỡ kịp thời đội ngũ GVCNL.

- Qua điều tra thực tế chúng tôi thấy những năm gần đây công tác GVCNL trong nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái chưa được coi trọng đúng như vị trí, vai trò của nó trong công tác giáo dục, vì các lý do sau :

          + Về chế độ chính sách đối với GVCNL chưa hợp lý so với nhiệm vụ họ đảm nhận. Ở một số trường, Hiệu trưởng chưa tạo điều kiện, môi trường tối ưu cho GVCNL hoạt động hiệu quả. Do đó dẫn tới tình trạng nhiều giáo viên không muốn làm công tác GVCNL vì quyền lợi không hơn gì giáo viên khác mà trách nhiệm lại nặng nề, hao tổn sức lực, tinh thần, thời gian nhiều hơn. Nhiều GVCNL muốn xin thôi để đầu tư vào giảng dạy, nâng cao năng lực chuyên môn phấn đấu trở thành giáo viên giỏi hơn là GVCNL giỏi.

          + Một số giáo viên mới ra trường chưa chuẩn bị tốt kiến thức, kỹ năng làm công tác GVCNL, nên trong công tác thực tế ở trường  Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái nhiều thầy, cô còn lúng túng, gặp khó khăn.

          + Do xu thế chung của xã hội (nhiều thầy, cô, học sinh, cha mẹ học sinh) chỉ quan tâm đến dạy học văn hoá, ít chú ý tới việc giáo dục toàn diện.

          + Trong điều kiện hiện đại, xã hội ngày càng phức tạp, quan hệ xã hội  càng phong phú, học sinh tiếp cận thông tin bằng nhiều nguồn khác nhau, rất dễ bị lôi kéo, kích động, dễ bị nhiễm tư tưởng bàng quan, thói quen hưởng thụ, lười lao động; nhiều tệ nạn xã hội tác động, xâm nhập vào nhà trường như : văn hoá phẩm đồi truỵ, hút thuốc lá, chia bè phái gây gổ đánh nhau, nghiện trò chơi điện tử,…

          + Một số giáo viên không muốn làm công tác GVCNL một phần do ngại đối đầu, giáo dục học sinh “cá biệt’’. Những học sinh này thường xuyên quậy phá, vi phạm nội qui, qui chế của trường, của lớp gây ảnh hưởng tới phong trào thi đua của lớp. Việc giáo dục các em thường gặp nhiều khó khăn và không đạt hiệu quả như mong muốn. Điều đó tạo ra tâm lý chán nản, làm giảm ngọn lửa nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ trong lòng người giáo viên.

          + Một số phụ huynh còn che đậy, lấp liếm những sai lầm khuyết điểm của con em mình, thường không muốn hoặc không cộng tác với nhà trường và GVCNL để có các hình thức giáo dục kịp thời, vì không muốn con mình bị phạt hay bị xử lý kỷ luật. Cá biệt còn có trường hợp phụ huynh không chấp nhận hình thức kỷ luật của nhà trường do bênh con, xót con…

          - Việc động viên khen thưởng cho GVCNL còn ít hoặc chưa kịp thời.

          - Các cấp quản lý giáo dục từ Phòng Giáo dục đến các nhà trường chưa tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm về công tác GVCNL; sinh hoạt chuyên đề về công tác GVCNL.

          Những lý do trên là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác giáo dục của GVCNL ở các trường  Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Để khắc phục được tình trạng này bên cạnh sự nỗ lực, cố gắng của từng GVCNL cần có sự phối hợp, giúp sức từ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đồng thời phải có sự ủng hộ nhiệt tình của chính học sinh. Vậy làm thế nào để học sinh yêu trường, yêu lớp, kính trọng thầy cô, yêu quý bạn bè, tích cực rèn luyện và học tập ? Đó là những câu hỏi đặt ra cần được các nhà quản lý trường học : Ban giám hiệu và các GVCNL giải đáp.

 3. Các biện pháp quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái trong giai đọan hiện nay

3.1. Lập kế hoạch công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

          Kế hoạch công tác GVCNL là cụ thể hoá mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung giáo dục của một tập thể lớp. Kế hoạch công tác GVCNL là chương trình hoạt động thực hiện vào từng giai đoạn cụ thể. Do đó Hiệu trưởng cần phải giúp đỡ GVCNL nắm vững kế hoạch công tác của nhà trường cả năm, từng học kỳ, từng tháng, đặc biệt là những định hướng về các mặt giáo dục, những chủ đề trong năm học để GVCNL có căn cứ và làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của mình.    

            * Hiệu trưởng giúp đỡ GVCNL xây dựng kế hoạch công tác trong năm học với những gợi ý công việc sau đây:

          - Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in sẵn và sử dụng thống nhất trong nhà trường.

- Yêu cầu GVCNL lập kế hoạch công tác GVCNL theo mẫu đã được in sẵn và sử dụng thống nhất trong nhà trường.

          Yêu cầu GVCNL thực hiện điều tra cơ bản về học sinh của lớp ngay từ tuần đầu của tháng 9. Thông qua việc hướng dẫn giáo viên sử dụng mẫu phiếu điều tra, tổ chức bàn giao công tác GVCNL giữa giáo viên trước với lớp sau, giáo viên cũ và giáo viên mới ( khi có sự thay đổi).

          + Điều tra hoàn cảnh gia đình của học sinh, truyền thống, phong tục địa phương để có kế hoạch giáo dục học sinh.

          + Nắm bắt quá trình học tập, tu dưỡng đạo đức ở các năm trước.

          + Nắm vững tâm lý lứa tuổi học sinh trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

          Qua đó GVCNL có thể nắm rõ được tình hình học sinh của lớp mình phụ trách để làm căn cứ xây dựng kế hoạch công tác GVCNL một cách cụ thể và xác định mục tiêu phấn đấu của lớp mình cho phù hợp. Trên cơ sở đó có những chủ trương và biện pháp triển khai các mặt giáo dục, lựa chọn xây dựng đội ngũ tự quản của lớp mình phụ trách như lớp trưởng, lớp phó, tổ trưởng…

          - Chỉ đạo GVCNL xây dựng kế hoạch công tác GVCNL theo tháng, tuần. Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm phải bám sát với kế hoạch hoạt động trong tháng của nhà trường và yêu cầu GVCNL thường xuyên quan sát sự phát triển của học sinh, sự chuyên cần của học sinh để hàng tháng báo cáo với lãnh đạo trường, đề ra phương hướng cụ thể cho tháng sau.

          - Hướng dẫn GVCNL nghiên cứu, nắm vững Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (Ban hành kèm theo Quyết định số 58 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo).

          - Chỉ đạo sự phối hợp giữa GVCNL phối hợp với Ban chỉ huy Liên Đội nhà trường để xây dựng kế hoạch hoạt động của từng tuần, tháng và theo chủ điểm.

          - Chỉ đạo GVCNL xây dựng mạng lưới thông tin thường xuyên giữa giáo viên với gia đình học sinh, giữa gia đình học sinh với nhà trường và giữa lãnh đạo nhà trường và GVCNL.

          - Chỉ đạo GVCNL xây dựng kế hoạch họp phụ huynh từng tháng ( có nội dung cụ thể); tổ chức họp tổ GVCNL theo định kỳ.

- Đề xuất các biện pháp và phân công thực hiện kế hoạch.

          - Thống nhất về hồ sơ trong công tác GVCNL, lịch họp tổ GVCNL và  các chế độ báo cáo.

          Sau khi xây dựng kế hoạch công tác GVCNL, yêu cầu GVCNL trình tổ GVCNL xem xét, đóng góp ý kiến và trình Hiệu trưởng ký duyệt đưa vào thực hiện.

          * Đổi mới tiết sinh hoạt lớp

          Trong công tác quản lí của nhà trường hiện nay việc quản lí và tổ chức các tiết sinh hoạt lớp của GVCNL còn nhiều hạn chế. Để đáp ứng được những yêu cầu giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách học sinh qua loại hình hoạt động này cần phải đổi mới hình thức và nội dung của tiết sinh hoạt lớp sao cho phù hợp với kế hoạch giáo dục của nhà trường cũng như của GVCNL. Có thể tổ chức các tiết sinh hoạt lớp theo các nội dung như sau:

          + Kiểm điểm, nhận xét, nhắc nhở...

          + Phát động thi đua, sinh hoạt đoàn thể, hoạt động hưởng ứng các chủ điểm.

            + Hội thảo chuyên đề: nghề nghiệp, lối sống, quan hệ, dân số, môi trường...

          + Hoạt động phục vụ giờ học trên lớp: trao đổi kinh nghiệm và phương pháp học tập.

          + Hoạt động văn hoá, văn nghệ , thông tin, báo chí...

          Để thực hiện có hiệu quả các tiết sinh hoạt lớp thì GVCNL có thể lập kế hoạch nội dung tiết sinh hoạt lớp theo từng tuần, tháng và cho cả năm.     Cần lựa chọn những nội dung thích hợp và xen kẽ các hình thức hoạt động để thu hút sự chú ý của học sinh. Hiệu trưởng cần tập trung chỉ đạo ở một khối lớp để rút kinh nghiệm từ đó chỉ đạo chung cho toàn trường.     

          Những vấn đề nêu trong kế hoạch cần có những nội dung cụ thể làm việc gì, làm như thế nào, làm với ai và làm trong thời gian nào.

3.2. Quản lý đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp

a.Lựa chọn, bố trí, phân công giáo viên chủ nhiệm lớp phù hợp với nhiệm vụ năm học.

Do vị trí, vai trò, nhiệm vụ và trách nhiệm nặng nề của GVCNL trong việc quản lí và giáo dục học sinh trong nhà trường nên việc lựa chọn và cử GVCNL phải được quan tâm đặc biệt.   Khi phân công GVCNL cần tính đến các yếu tố sau:

          - Năng lực trình độ của giáo viên.

          - Năng lực hiểu biết học sinh về tâm lý lứa tuổi.

          - Năng lực giao tiếp với học sinh và cha mẹ học sinh.

          - Năng lực tổ chức các hoạt động tập thể của học sinh

          - Năng lực phán đoán, cảm hoá, thuyết phục học sinh theo từng cá tính học sinh.

          - Điều kiện, hoàn cảnh của từng giáo viên.

          - Yêu cầu đảm bảo chất lượng đào tạo và lợi ích của học sinh.

          - Đảm bảo tính kế thừa, khoa học, phù hợp với đặc điểm, tình hình của nhà trường và chương trình dạy học đang được áp dụng

          - Lựa chọn cách phân công hay phối hợp các cách phân công GVCNL phù hợp với điều kiện từng năm học có thể phân công bám theo lớp hoặc chuyên sâu, phân công ưu tiên, đổi chéo hoặc phân công ngẫu nhiên...

b Tổ chức tổ giáo viên chủ nhiệm lớp

          Trong nhà trường nên xây dựng tổ GVCNL (theo ca học, theo khối lớp hoặc toàn trường), tổ GVCNL sinh hoạt theo định kỳ 1 lần/tháng vào ngày đầu tháng và giao ban 1lần/tuần vào trước giờ sinh hoạt lớp. Qua các buổi sinh hoạt tổ GVCNL, các GVCNL sẽ trao đổi tình hình cụ thể của lớp mình, thống nhất biện pháp giáo dục, trao đổi kinh nghiệm trong công tác GVCNL và phối hợp với nhau trong các hoạt động giáo dục chung của nhà trường, chỉ đạo thực hiện kế hoạch công tác GVCNL của các khối lớp đề ra.

          Đối với những trường học sinh đông học hai ca, thành lập mỗi ca một tổ GVCNL, Hiệu trưởng giao cho Phó hiệu trưởng trực ca học làm tổ trưởng tổ GVCNL thuộc ca đó và chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức sinh hoạt, kiểm tra kế hoạch công tác GVCNL và việc thực hiện kế hoạch đó.

          Đối với những trường học một ca nên thành lập một tổ GVCNL Hiệu trưởng là tổ trưởng hoặc Hiệu trưởng giao cho một Phó hiệu trưởng làm tổ trưởng tổ GVCNL.

          Với sự phát triển về qui mô và số lượng hiện nay ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái việc hình thành tổ GVCNL là một điều cần thiết phục vụ cho công tác quản lí của nhà trường ngày càng hoàn thiện và hoạt động có hiệu quả.   

c. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên chủ nhiệm lớp

          Công tác của GVCNL là một công tác khó, đòi hỏi nhiều kỹ năng sư phạm chuyên biệt như: kỹ năng giao tiếp ứng xử với học sinh; kỹ năng tìm hiểu học sinh; kỹ năng giáo dục thuyết phục học sinh; kỹ năng giáo dục học sinh cá biệt;...

          Nhiều GVCNL, nhất là các giáo viên mới ra trường, còn chưa có được các kỹ năng thành thạo trong công tác chủ nhiệm. Vì vậy, hiệu quả hoạt động của GVCNL còn bị hạn chế. Việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng làm chủ nhiệm lớp cho giáo viên là việc làm cần thiết. Do đó, người Hiệu trưởng cần lập kế hoạch bồi dưỡng ngay từ đầu năm học, trong đó có kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch dài hạn.

          Người GVCNL đồng thời cũng là giáo viên bộ môn. Hơn nữa, nếu người GVCNL lại là giáo viên giỏi thì công tác chủ nhiệm lớp có rất nhiều thuận lợi, cho nên việc bồi dưỡng GVCNL phải gắn kết cả hai lĩnh vực: bộ môn và nghiệp vụ chủ nhiệm lớp.

          * Nội dung bồi dưỡng:

          - Bồi dưỡng phẩm chất nghề nghiệp, tư tưởng chính trị cho đội ngũ GVCNL.

          - Tổ chức bồi dưỡng cho GVCNL các kỹ năng hoạt động tập thể, kỹ năng xây dựng tập thể tự quản, kỹ năng phát hiện và phát huy tiềm năng tích cực của học sinh...

          - Bồi dưỡng cập nhật kiến thức phổ thông, khoa học kỹ thuật, những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ như những vấn đề mới về giáo dục được điều chỉnh trong chương trình giáo dục, bổ sung những kiến thức mang tính cập nhật...

          - Bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng sử dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoạt động học tập của học sinh.

          - Bồi dưỡng kỹ năng làm và sử dụng đồ dùng dạy học, biết sử dụng các thiết bị dạy học hiện đại như đèn chiếu, phòng học tiếng, hệ thống giảng dạy phần mềm qua máy tính,.... khi có điều kiện.

          - Bồi dưỡng kỹ năng khai thác nội dung các môn học một cách triệt để nhằm giáo dục học sinh đạt hiệu quả:

          + Giáo dục cho học sinh về những chuẩn mực đạo đức của xã hội, cách ứng xử, giao tiếp trong cuộc sống thông qua các môn học như văn học, giáo dục công dân....

          + Giáo dục học sinh tính nhân văn, dân tộc, tinh thần bảo vệ Tổ quốc... thông qua các bài học lịch sử, văn học...

          + Giáo dục học sinh ý thức bảo vệ môi trường, biết yêu quí, bảo vệ thiên nhiên qua các bài học .

          - Bồi dưỡng những tri thức cơ bản về tâm lí học, giáo dục học, và các kỹ năng sư phạm như kỹ năng tiếp cận đối tượng học sinh, kỹ năng nghiên cứu tâm lí lứa tuổi, kỹ năng đánh giá, kỹ năng lập kế hoạch công tác GVCNL và khả năng nhạy cảm sư phạm để có thể dự đoán đúng, chính xác sự phát triển nhân cách của học sinh.

          * Ngoài các nội dung trên, các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái  nói riêng, có đa số học sinh dân tộc theo học, người Hiệu trưởng cần tổ chức bồi dưỡng cho giáo viên những kiến thức về tâm lí học dân tộc, phong tục tập quán, một số câu giao tiếp giản đơn bằng tiếng của một số dân tộc sống trên địa bàn.... để giúp giáo viên ứng xử kịp thời với mọi đối tượng học sinh, biết tập hợp và xây dựng khối đoàn kết các dân tộc thông qua lớp mình chủ nhiệm.

          - Bồi dưỡng để mỗi giáo viên trở thành một tuyên truyền viên, một cố vấn tích cực hướng dẫn học sinh tham gia các phong trào phù hợp với một tỉnh miền núi như: phong trào vận động toàn dân sử dụng muối iốt để phòng chống bệnh bướu cổ, nằm màn tránh muỗi phòng bệnh sốt rét,...

          - Định hướng và giúp cho cho GVCNL tổ chức các buổi sinh hoạt lớp, sinh hoạt đoàn có nội dung phong phú, hình thức hấp dẫn, luôn thay đổi các hình thức sinh hoạt để thu hút học sinh tham gia, qua đó giáo dục các em...

          * Các hình thức và phương pháp bồi dưỡng:

          - Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên, theo chu kỳ về chuyên môn nghiệp vụ theo chương trình của bộ giáo dục đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên vận dụng vào thực tế giảng dạy, giáo dục.

          - Bồi dưỡng tại trường thông qua hình thức thăm lớp, dự giờ, sinh hoạt tổ chuyên môn theo định kỳ, tổ chức các hội thảo theo chuyên đề:

          + Chuyên đề tổ chức các hoạt động ngoài giờ, ngoài lớp.

          + Chuyên đề cập nhật kiến thức về giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục phòng chống HIV- AIDS...

          - Tổ chức bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ, chuẩn hoá đội ngũ thông qua các hình thức kèm cặp giúp đỡ theo nhóm, tổ chuyên môn hoặc tổ GVCNL.

          - Tổ chức hội thi GVCNL giỏi hằng năm, chú trọng công tác viết sáng kiến kinh nghiệm về đề tài công tác GVCNL.

          - Tổ chức cuộc thi ứng xử sư phạm trong tập thể giáo viên bằng nhiều hình thức, tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao năng lực sư phạm và khả năng giao tiếp với học sinh.

          - Bố trí thời gian cho GVCNL có điều kiện đến thư viện và phòng đọc tự nghiên cứu nâng cao chuyên môn nghiệp vụ...

          - Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan các trường trọng điểm, các trường bạn để học hỏi và rút kinh nghiệm.

          * Để tổ chức bồi dưỡng GVCNL có hiệu quả và chất lượng, cần nâng cao khả năng tự học, tự bồi dưỡng trong giáo viên, đề ra các chuyên đề bồi dưỡng để giáo viên lựa chọn hoặc cho giáo viên đăng kí những chuyên đề mà họ thấy cần thiết, tập hợp và lập kế hoạch bồi dưỡng.

          * Cần căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL của giáo viên từng năm để phân loại, lựa chọn nội dung bồi dưỡng, tổ chức các chuyên đề và bố trí giáo viên tham gia các đợt bồi dưỡng theo chuyên đề phù hợp.

3.3. Chỉ đạo liên kết giáo viên chủ nhiệm với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường

a. Phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với Ban giám hiệu

Công tác GVCNL ở một lớp không tách khỏi công tác chủ nhiệm lớp của toàn trường và các mục tiêu về giáo dục học sinh phải được thực hiện ở công tác của giáo viên chủ nhiệm ở mỗi lớp. Vì vậy, phải có sự phối hợp giữa Ban giám hiệu và các GVCNL trong toàn trường. Các GVCNL cần thường xuyên báo cáo tình hình lớp, kết quả giáo dục, nguyện vọng của học sinh với Ban giám hiệu. Thỉnh thị, đề xuất, xin ý kiến về biện pháp giáo dục và đề nghị với lãnh đạo trường cùng phối hợp, thống nhất tác động sư phạm đối với cả lớp và từng học sinh. Khi được GVCNL báo cáo về tình hình học sinh, lãnh đạo nhà trường phải nhanh chóng hội ý, cùng tìm biện pháp giải quyết.      

b. Tổ chức và chỉ đạo sự  phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các giáo viên bộ môn

Trong nhà trường cần tạo ra sự đồng bộ, thống nhất giữa GVCNL và giáo viên bộ môn dạy ở lớp đó trong việc giáo dục học sinh. Cần nhận thức rằng giáo dục học sinh là nhiệm vụ chung của Hội đồng trường, giáo viên bộ môn không đứng ngoài công tác này. Vì vậy, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa GVCNL với giáo viên bộ môn dạy ở lớp với những biện pháp cụ thể là:

- Thống nhất các yêu cầu giáo dục đối với học sinh; nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

- Theo dõi thường xuyên, nắm tình hình học tập của học sinh qua giáo viên bộ môn và thông báo cho giáo viên bộ môn biết các nội dung, các trọng tâm công tác giáo dục của lớp trong từng thời kỳ.

- Làm cho giáo viên bộ môn có thể hiểu rõ hơn về hoàn cảnh các học sinh có khó khăn về học tập và rèn luyện, đồng thời tiếp thu ý kiến phản ánh của giáo viên bộ môn để cùng hỗ trợ và phối hợp tác động tới lớp và tới từng học sinh.

c. Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với các tổ chức Đoàn, Đội và các đoàn thể khác trong nhà trường

          Là tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, chưa cập nhật thông tin thường xuyên, vì vậy hiệu trưởng cần thông qua các cuộc họp chi bộ để nêu ý kiến chỉ đạo chi đoàn giáo viên, Liên Đội phối hợp với GVCNL xây dựng và tổ chức nhiều hình thức hoạt động đa dạng, phong phú để các em có thêm vốn hiểu biết về cuộc sống, tự nhiên, xã hội, môi trường...

          Do đặc điểm tâm lý học sinh nói chung và đặc điểm tâm lí học sinh dân tộc nói riêng, các em rất thích tham gia vào các hoạt động tập thể cho nên cần định hướng cho GVCNL cùng phối hợp Bí thư Đoàn trường, Liên đội xây dựng và tổ chức các hoạt động tập thể như:

          - Hoạt động văn hoá, văn nghệ: tổ chức các đêm văn nghệ chào mừng các ngày lễ, các hoạt động múa hát tập thể, các hội thi...

          - Các hoạt động xã hội: quyên góp ủng hộ sách vở, quần áo cho các bạn vùng sâu, vùng xa, ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, các bạn học sinh còn gặp nhiều khó khăn,...

          - Tham gia xây dựng bảo vệ môi trường: trồng cây, giữ trường xanh, sạch, đẹp,...

          - Tham gia phòng chống các tai, tệ nạn xã hội đang xâm nhập học đường.

          - Các hoạt động vui chơi giải trí, thể dục thể thao...

          - Các hoạt động lao động công ích: dọn vệ sinh quanh trường lớp, trồng, chăm sóc cây xanh..

          - Các hoạt động giúp đỡ nhau trong học tập...

          Trong các hoạt động này, GVCNL giữ vai trò cố vấn, giúp đỡ, tổ chức, điều khiển, quản lí còn Đoàn, Đội nhà trường đóng vai trò là người bao quát chỉ đạo, phối hợp chung các hoạt động trong nhà trường. Thông qua hoạt động này, học sinh sẽ củng cố, bổ sung và mở rộng thêm tri thức đã học, phát triển óc thẩm mỹ, tăng cường thể chất, nâng cao nhận thức về xã hội, về ý thức công dân, tình yêu quê hương đất nước. Từ đó hình thành cho học sinh thái độ tích cực, tinh thần đoàn kết, ý thức giúp đỡ cộng đồng góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.                  

d. Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp

          Kết quả giáo dục học sinh của lớp chủ nhiệm không chỉ phụ thuộc vào sự thống nhất tác động sư phạm của các lực lượng trong nhà trường mà còn phụ thuộc vào sự thống nhất tác động giáo dục của các lực lượng ngoài nhà trường trước hết là gia đình. Vì vậy, nhà trường cần chỉ đạo sự phối hợp giữa GVCNL với cha mẹ học sinh.

          - Tạo điều kiện cho GVCNL liên kết với gia đình học sinh bằng cách :

          + Tổ chức hội nghị cha mẹ học sinh, bầu ban đại diện cha mẹ học sinh, lựa chọn những người nhiệt tình, có thời gian, có uy tín trong cộng đồng dân cư để họ có điều kiện quan tâm, giúp đỡ nhà trường về vật chất, tinh thần vào ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp.

          + Xây dựng kế hoạch định kỳ cho GVCNL thông báo cho gia đình học sinh biết kết quả học tập, lao động, tu dưỡng,... Đồng thời yêu cầu gia đình thông báo kịp thời với GVCNL về tình hình học tập, sinh hoạt, diễn biến tư tưởng, hành vi của con em mình ở gia đình, cộng đồng dân cư,...để từ đó phối hợp giáo dục.

          - Nhà trường tổ chức phát hành tờ rơi để cùng với GVCNL tuyên truyền, tư vấn cho các bậc cha mẹ học sinh về các kiến thức tâm lý học, giáo dục học để cùng nhà trường giáo dục học sinh, tổ chức bồi dưỡng kiến thức giáo dục gia đình cho cha mẹ học sinh.

e.Chỉ đạo phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm lớp với chính quyền và các đoàn thể ở địa phương      

          - Tạo mối quan hệ mật thiết với đảng uỷ, chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, các đoàn thể quần chúng,... bằng các hình thức như: kết nghĩa, đỡ đầu, bảo trợ,...

- Nhà trường mời các bậc lão thành cách mạng, anh hùng lực lượng vũ trang đến nói chuyện truyền thống nhân dịp các ngày lễ lớn như : 22/12, 3/2, 30/4…để giáo dục truyền thống cho học sinh.

          - Nhà trường chủ động trong việc kết hợp 3 môi trường giáo dục: Nhà trường - Gia đình - Xã hội, tổ chức mạng lưới thông tin để nắm bắt tình hình học sinh ở ngay trong cộng đồng, ngoài những giờ các em học tập tại trường. Để kịp thời phối hợp giáo dục học sinh khi phát hiện thấy học sinh có vi phạm, cần có những biện pháp xử lý cụ thể.( Ví dụ: Phối hợp với công an phường, xã, tổ dân phố...).

          - Tổ chức cho học sinh tham gia vào các hoạt động xã hội như: tổ chức các hoạt động văn nghệ chào mừng kỷ niệm các ngày lễ, các sự kiện trọng đại do địa phương tổ chức như :

          + Hội diễn chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam, ngày thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam 3-2

          + Cùng tham gia cổ động cho ngày "Tiễn tân binh lên đường nhập ngũ"

          + Tham gia các hoạt động "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn".

          + Tham gia các hoạt động từ thiện: ủng hộ đồng bào bị lũ lụt, đồng bào khó khăn vùng sâu, vùng xa; giúp đỡ các trường trẻ em khuyết tật, các lớp học tình thương...

            + Tham gia các hoạt động công ích (giữ gìn đường phố xanh, sạch, đẹp...)

          Qua các hoạt động đó vừa giúp học sinh có thêm những hiểu biết về xã hội, cuộc sống, vừa góp phần đẩy mạnh hoạt động văn hoá, chính trị ở địa phương. Thiết lập mối quan hệ khăng khít giữa nhà trường và chính quyền địa phương, xây dựng được uy tín trong nhân dân, thu hút sự chú ý của cộng đồng, để từ đó đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục. Huy động cộng đồng cùng chăm lo, xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường như : trang thiết bị phục vụ cho công tác giảng dạy của nhà trường, xây dựng sân chơi, bãi tập cho học sinh... nhằm giúp cho các hoạt động giáo dục của nhà trường đạt hiệu quả.

3.4. Tổ chức cho giáo viên chủ nhiệm lớp thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện

a. Tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức, pháp luật, lao động, hướng nghiệp

          Ngay từ đầu năm học Ban giám hiệu, GVCNL cần tổ chức cho học sinh học nội quy của trường, quy định của lớp, nhiệm vụ năm học, phòng chống tệ nạn xã hội. GVCNL cho học sinh ký cam kết thực hiện tốt nội quy của nhà trường, có ý kiến của cha mẹ học sinh.

           GVCNL tổ chức, quản lý, giáo dục học sinh trong tiết sinh hoạt lớp hàng tuần, trong các buổi lao động, tham gia các hoạt động chung của toàn trường (chào cờ đầu tuần, kỷ niệm các ngày lễ hàng tháng).

Giáo dục đạo đức cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của nhà trường nói riêng, của gia đình và xã hội nói chung. Đạo đức là yếu tố chi phối mọi hoạt động và giao lưu của con người. Do đó, GVCNL cần giúp đỡ và tạo điều kiện để học sinh tham gia vào các hoạt động giao lưu. GVCNL cần tổ chức những hoạt động chứa đựng những nội dung giáo dục đạo đức, tư tưởng, chính trị, pháp luật, nhân văn như :

+ Tổ chức thi đua học tập, rèn luyện trong học sinh; có kiểm tra, đánh giá, tuyên dương, khen thưởng cá nhân, nhóm, tổ hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học.

+ Hoạt động theo chủ đề về chính trị - xã hội; tuỳ theo từng thời điểm và tình hình cụ thể của lớp, của trường, của địa phương, đất nước và thế giới để chọn chủ đề phù hợp. Ví dụ: sinh hoạt với chủ đề: "Nhớ công ơn thầy, cô giáo"; "Nét đẹp truyền thống lớp em, trường em"  (tai nạn giao thông, sự ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số, hiểm hoạ AIDS ; chính sách đối với gia đình thương binh, liệt sỹ, với bà mẹ Việt nam anh hùng,... gia đình bạn gặp khó khăn, đối với những người bị bất hạnh, đối với những người bị thiên tai), hoạt động kết nghĩa, hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, chào mừng các sự kiện chính trị xã hội.        

          Trong tập thể học sinh, không tránh khỏi có những học sinh vi phạm về đạo đức, học sinh cá biệt, học sinh chậm tiến. Nhiệm vụ của GVCNL là phải giúp đỡ, giáo dục để các em này trở thành những thành viên tích cực, hoà nhập với tập thể lớp. Muốn vậy, trước hết GVCNL phải tìm hiểu rõ nguyên nhân và những ảnh hưởng có tác động đến những học sinh này để có thể tìm ra giải pháp tác động phù hợp.

          Đối với những học sinh có vi phạm về đạo đức trong quá trình giáo dục cần chú ý thực hiện các nguyên tắc sau đây:

          - Không được cô lập, tách học sinh đó ra khỏi tập thể lớp.

          - Phải tạo được một dư luận rộng rãi ủng hộ các kế hoạch của tập thể trong việc giúp đỡ học sinh có vấn đề.

          - Phải biết vận dụng các biện pháp tác động phù hợp : Tác động trực tiếp, tác động song song,...

          - Kết hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục khác như : Cha mẹ học sinh, Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể trong nhà trường...

          Nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế hiện nay có yêu cầu nhân lực rất đa dạng. Bởi vậy công tác hướng nghiệp cho học sinh, tạo cho họ năng lực phục vụ tốt lao động sản xuất trong các thành phần kinh tế khác nhau trong sự cạnh tranh lành mạnh càng trở nên cấp thiết. GVCNL là người có vai trò quan trọng trong công tác này.

          GVCNL giúp các em tìm hiểu (vị trí, vai trò, đặc điểm, yêu cầu, số lượng, trình độ văn hoá, kỹ thuật, sức khoẻ) về nhu cầu nghề nghiệp của xã hội nói chung, của địa phương nói riêng.

b. Chỉ đạo giáo dục động cơ học tập và tổ chức các hoạt động học tập

          Kết quả của hoạt động học tập của học sinh thể hiện ở khả năng nắm tri thức, ở sự phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, năng lực tư duy sáng tạo và còn phụ thuộc vào các yếu tố như : Ý thức về nghĩa vụ học tập, động cơ thái độ học tập, điều kiện và phương tiện học tập... Do đó để nâng cao kết quả hoạt động học tập của lớp, GVCNL cần thông qua tập thể lớp, đề ra các yêu cầu học tập đối với các em, giúp các em xác định nghĩa vụ học tập của mình, xác định được động cơ và thái độ học tập đúng đắn, tích cực tìm tòi biện pháp hay, tốt để đạt được kết quả học tập cao nhất.

          GVCNL chỉ đạo đội ngũ tự quản của lớp tổ chức các nhóm học tập : "Đôi bạn cùng tiến", "Những người yêu thích môn toán", "Câu lạc bộ thơ văn", tổ chức hội nghị học tốt, để trao đổi kinh nghiệm học tập, giúp nhau cùng tiến bộ, hướng dẫn học sinh sử dụng hiệu quả 15 phút truy bài đầu buổi học mỗi ngày. Đối với học sinh yếu, kém, GVCNL phải tìm hiểu rõ nguyên nhân để giúp đỡ; đối với học sinh giỏi, GVCNL phải có kế hoạch bồi dưỡng, giúp các em phát huy hết khả năng của mình, tích cực nâng cao hơn kết quả học tập của bản thân và tích cực giúp đỡ bạn cùng tiến bộ. Đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn, GVCNL vận động lớp giúp đỡ và đề nghị gia đình tạo mọi điều kiện cho các em vươn lên trong học tập.

          Việc tổ chức có kế hoạch các hoạt động học tập cho học sinh nhằm nâng cao kết quả học tập là một trong những việc làm quan trọng hàng đầu của GVCNL. Vì vậy, GVCNL cần nghiên cứu, tìm hiểu nắm vững tình hình cụ thể của cả lớp, của từng học sinh để lựa chọn biện pháp tác động phù hợp.

c. Tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, vui chơi, giải trí

GVCNL cần quan tâm cố vấn cho cán bộ lớp tổ chức cho cả lớp vui chơi, giải trí, rèn luyện sức khoẻ như : các trò chơi, các hoạt động thể thao, văn nghệ, tham quan du lịch, cắm trại, xem triển lãm, xem phim tập thể, lễ hội truyền thống văn hoá của trường, của địa phương, giao lưu văn hoá giữa các dân tộc. Các hoạt động này giúp các em sảng khoái về tinh thần, mở mang trí tuệ, phát triển thể chất, tăng cường sức khoẻ, hình thành các phẩm chất cơ bản. Qua đó tạo ra những điều kiện thuận lợi để học sinh giao tiếp, hình thành ý thức, năng lực hoà nhập vào cộng đồng xã hội sau này.

Đồng thời, GVCNL cần quan tâm tổ chức các hoạt động y tế học đường, giúp học sinh có ý thức giữ vệ sinh chung, bảo vệ sức khoẻ, phòng chống bệnh tật, nhất là các bệnh cận thị, vẹo cột sống, hô hấp, hiểm hoạ AIDS, nghiện chơi điện tử ; tích cực bảo vệ môi trường và sự cân bằng sinh thái.

Để tổ chức tốt các hoạt động trên, GVCNL phải dựa vào tổ chức đoàn, các cơ quan văn hoá, thể dục thể thao, cơ quan y tế, các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, các cơ quan kinh tế, các nhà tài trợ...

3.5. Động viên thi đua, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần trong công tác giáo viên chủ nhiệm lớp

          Với bất kỳ một hoạt động hay công tác nào thì việc động viên khen thưởng kịp thời của cấp trên là nguồn cổ vũ lớn lao, là động lực thúc đẩy họ vươn lên trong công tác.

          - Đối với GVCNL, Hiệu trưởng phải quan tâm tới họ cả về vật chất lẫn tinh thần, động viên, chia sẻ kịp thời với những niềm vui, nỗi buồn, những lo toan, trăn trở trong cuộc sống cũng như trong công tác.

          - Xây dựng những chỉ tiêu và định hướng cho các nội dung giáo dục tuỳ theo từng thời kỳ, từng năm học.

          - Căn cứ vào các ngày lễ lớn để xây dựng chủ đề phát động các đợt thi đua:

          + Chào mừng ngày nhà giáo Việt nam (20-11), tổ chức cuộc thi đua với chủ đề "Thi đua dạy tốt- học tốt".

          + Kỷ niệm ngày thành lập QĐND Việt Nam (22-12) với chủ đề "Chúng em hành quân theo chân những người anh hùng" bằng các hoạt động văn hoá, văn nghệ...

          Lãnh đạo nhà trường, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Liên đội tập thể giáo viên xây dựng nội dung, tiêu chí đánh giá cụ thể, thống nhất và ban hành ngay từ đầu mỗi đợt thi đua để làm căn cứ đánh giá cuối đợt.

          - Tôn trọng nguyên tắc khen thưởng đúng người, đúng việc, đảm bảo dân chủ, công khai trong đánh giá, khen thưởng. Qua mỗi đợt thi đua đều có định mức khen thưởng cho từng tập thể, cá nhân học sinh và GVCNL, tạo ra động cơ lành mạnh, kích thích mọi thành viên đều cố gắng vươn lên và tự khẳng định mình trước tập thể.

          - Xây dựng danh hiệu GVCNL giỏi, tập thể học sinh tiên tiến, chi đội vững mạnh...

- Tổ chức đăng ký GVCNL giỏi theo chuẩn

- Chỉ đạo và tổ chức thi GVCNL giỏi hàng năm

- Có chế độ ưu đãi hợp lý đối với GVCNL giỏi

          Có thể nói, để xây dựng một nhà trường vững mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường hiện nay, thì vai trò của GVCNL cực kỳ quan trọng, bởi nó trực tiếp ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Chính vì vậy người Hiệu trưởng cần phải biết tổ chức công việc khoa học, phối hợp nhịp nhàng, linh hoạt các hoạt động giảng dạy giáo dục học sinh trong nhà trường nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục.

3.6. Kiểm tra, đánh giá công tác giáo viên chủ nhiệm lớp trên cơ sở hiệu quả công tác

          Để đảm bảo được tính khách quan, công bằng, vô tư trong công tác kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL, ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng cần xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá cụ thể dựa trên văn bản luật, dưới luật do bộ giáo dục đào tạo ban hành. Chất lượng văn hoá trong nhà trường được thể hiện khá cụ thể và rõ ràng, song chất lượng giáo dục thì lại khó định lượng và khó đánh giá. Do đó để việc kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL một cách khoa học, tránh hình thức và có hiệu quả cao, cần lưu ý một số điểm sau đây trong công tác kiểm tra:

           - Cần xây dựng chuẩn đánh giá GVCNL giỏi

          - Kiểm tra việc đánh giá học sinh của GVCNL sao cho thống nhất trong toàn trường, theo hướng dẫn đánh giá xếp loại học sinh. Cần tránh tình trạng GVCNL quá dễ dãi hoặc quá khắt khe trong việc đánh giá.

          - Cần thống nhất nội dung của mỗi đợt kiểm tra, việc kiểm tra cần nêu rõ các ưu điểm, khuyết điểm cụ thể trong các biên bản và thông báo kết quả tại các buổi họp GVCN và hội đồng nhà trường.

          - Áp dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, tổ chức kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất để đánh giá đúng thực trạng của công tác GVCNL, kịp thời có hướng điều chỉnh hoặc xử lý khi phát hiện sai lệch.

          * Các hình thức kiểm tra công tác GVCNL của Hiệu trưởng :

          - Hiệu trưởng có thể trực tiếp kiểm tra, có thể giao cho các phó hiệu trưởng hoặc thành lập các tổ kiểm tra công tác GVCNL.

          - Kiểm tra gián tiếp qua báo cáo của các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, cá nhân.

          - Kiểm tra trực tiếp qua hồ sơ, sổ sách như : Sổ chủ nhiệm, sổ điểm, sổ sinh hoạt chuyên môn,...

          - Kiểm tra qua dự giờ sinh hoạt lớp, kiểm tra việc thực hiện hoạt động các phong trào của lớp,...

- Đề ra và thống nhất tiêu chuẩn đánh giá công tác GVCNL. Cho giáo viên đăng kí GVCNL giỏi để làm căn cứ đánh giá cuối năm. Ví dụ: Ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, ngày giờ công, để đạt được danh hiệu GVCNL giỏi thì lớp chủ nhiệm phải đạt danh hiệu lớp tiên tiến, GVCNL xuất sắc thì lớp phải đạt danh hiệu lớp xuất sắc.

          Căn cứ vào từng đợt kiểm tra định kỳ( tháng 11, tháng 3, cuối năm) và qua các phong trào thi đua cùng với chất lượng về mặt học tập, chất lượng giảng dạy, giáo dục và điểm tổng kết thi đua của lớp để xếp loại thi đua cho giáo viên.

          - Công bằng, công khai và dân chủ trong kiểm tra đánh giá công tác GVCNL. Người cán bộ quản lý nhà trường cần xác định: Kiểm tra để ngăn ngừa là chính. Khi kiểm tra phát hiện những vấn đề cần điều chỉnh trong công tác GVCNL thì phải góp ý chân thành, tránh mặc cảm, định kiến; đặc biệt tôn trọng và giữ uy tín cho giáo viên. Khi gặp những tình huống cụ thể có thể giúp đỡ giáo viên một cách trực tiếp hoặc thông qua tập thể tạo cơ hội cho họ phát huy những mặt mạnh của mỗi giáo viên, hạn chế mặt yếu kém. Đặc biệt trong xã hội hiện nay, cần lưu ý để phát hiện, ngăn ngừa những biểu hiện tiêu cực trong công tác GVCNL như : Sự phân biệt, đối sử không công bằng của GVCNL với học sinh, nâng đỡ, thiên vị những học sinh được gia đình nhờ giúp đỡ... Đánh giá GVCNL không chỉ dựa vào những thành tích cao của lớp chủ nhiệm mà phải xem xét công sức họ bỏ ra để vực một lớp từ yếu, trung bình lên khá, tốt; giảm học sinh học yếu hay có đạo đức "cần cố gắng".

- Muốn đánh giá chính xác cần có sổ ghi chép đầy đủ theo thời gian.

- Muốn đánh giá khách quan, công bằng cần lắng nghe ý kiến của tập thể cán bộ giáo viên, các đoàn thể trong nhà trường.

4. Hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở

        Sau khi nghiên cứu và thực nghiệm sáng kiến từ tháng 1/2017  đến tháng 3/2018, tôi thấy việc áp các biện pháp quản lí công tác Giáo viên chủ nhiệm lớp của Hiệu trưởng ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái đã có hiệu quả rõ rệt so với khi chưa áp dụng.

        Kết quả là sau một học kì áp dụng sáng kiến tại 03 đơn vị: Trường PTDTNT THCS Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên. tôi nhận thấy kết quả hai mặt giáo dục của các lớp chủ nhiệm trong học kì I năm học 2017-2018 tăng đáng kể cụ thể như sau:

        Trường PTDTNT THCS Lục Yên.

Tổng số lớp CN

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

 

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

8

278

224

52

2

0

19

180

78

1

Trường PTDTNT THCS Yên Bình.

Tổng số lớp CN

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

Yếu

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

8

275

243

29

03

0

18

156

96

5

Trường PTDTNT THCS Trấn Yên.

Tổng số lớp CN

Tổng số hs

Hạnh kiểm

Học lực

Tốt

Khá

Tb

Yếu

Giỏi

Khá

Tb

Yếu

8

269

202

59

8

0

16

133

114

6

 

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

          1. Kết luận

 Qua lý luận và thực tiễn kinh nghiệm công tác GVCNL cho thấy thành công của phương pháp giáo dục không phải ở một vài phương pháp hay biện pháp riêng có kết quả mà là ở cả một hệ thống phương pháp, các biện pháp được thực hiện một cách linh hoạt và được áp dụng với từng trường, từng địa bàn. Mặt khác, công tác GVCNL thành công hay không còn phụ thuộc sự quản lý, lãnh đạo của nhà trường, các đoàn thể, năng lực và sự nhiệt tình của đội ngũ GVCNL.

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn chúng tôi đề xuất được 6 biện pháp quản lý công tác GVCNL ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Yên Bái hiện nay là: Lập kế hoạch công tác GVCNL; Quản lý đội ngũ GVCNL; Chỉ đạo liên kết GVCNL với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường; Tổ chức cho GVCNL thực hiện các nội dung giáo dục toàn diện; Động viên thi đua, tạo điều kiện về vật chất, tinh thần trong công tác GVCNL; Kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL trên cơ sở hiệu quả công tác. Chúng được xây dựng và đề xuất từ các chức năng quản lý. Một phần các biện pháp này là sự đúc kết kinh nghiệm ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở huyện Lục Yên, Yên Bình, Trấn Yên. Do đó, có thể nói rằng các biện pháp này đều có tính khả thi và có thể áp dụng cho các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở khác trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, trong thực tế không có biện pháp nào được coi là độc tôn, cái quan trọng là người quản lý nhà trường biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo các biện pháp thì sẽ đem lại kết quả cao trong việc quản lý công tác GVCNL nhằm giáo dục học sinh theo mục tiêu nhà trường đã đặt ra.

Đổi mới công tác GVCNL để tăng cường quản lý, giáo dục học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở là nhu cầu rất cần thiết và cấp bách trong điều kiện hiện nay ở các nhà trường.

2. Khuyến nghị

          Từ thực trạng công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý công tác GVCNL ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở nói riêng chúng tôi xin đề xuất một số khuyến nghị sau đây:

* Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo Yên Bái

          - Ra văn bản hướng về công tác GVCNL cho các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.

          - Có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác GVCNL cho giáo viên.

          - Tổ chức cho GVCNL đi học tập các điển hình GVCNL giỏi ở các địa phương.

          - Phát động và chỉ đạo phong trào thi đua phấn đấu trở thành GVCNL giỏi ở các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở. Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác này.

          - Tổ chức hội thi GVCNL giỏi cấp tỉnh.

* Đối với các Phòng Giáo dục và Đào tạo.

          - Có kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác GVCNL cho giáo viên.

          - Hàng năm tổ chức hội thi GVCNL giỏi cấp huyện.

          - Tổ chức cho GVCNL đi học tập các điển hình GVCNL giỏi ở trong và ngoài huyện.

          - Phát động và chỉ đạo phong trào thi đua phấn đấu trở thành GVCNL giỏi ở các trường Trung học cơ sở.

- Tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác GVCNL.

* Đối với các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở

          - Có kế hoạch chi tiết công tác quản lí GVCNL.

          - Phát động phong trào thi đua phấn đấu trở thành GVCNL giỏi, tổ chức hội thi GVCNL giỏi cấp cơ sở.

          - Tạo điều kiện về quỹ thời gian, kinh phí cho các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục toàn diện học sinh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đặng Quốc Bảo. Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay. NXB ĐHQG Hà Nội, năm 1996.

2. Đặng Quốc Bảo - Nguyễn Đắc Hưng. Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai - vấn đề và giải pháp. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2004.

3. Bộ Giáo dục & Đào tạo. Điều lệ trường trung học cơ sở

4. Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Cơ sở khoa học quản lý, khoa Sư phạm ĐHQG, Hà Nội. Những quan điểm giáo dục hiện đại, tập bài giảng ở khoa Sư phạm, ĐHQG Hà Nội.

5. Phạm Minh Hạc. Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1986.

6. Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Dũng. Giáo dục học đại cương. NXB Giáo dục, Hà Nội 1998.         

7. Nguyễn Kỳ - Bùi Trọng Tuân. Một số vấn đề của lý luận quản lý giáo dục. Trường Cán bộ Quản lý Giáo dục, Hà Nội 1984

8.Hà Nhật Thăng. Hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở, NXB Giáo dục, Hà Nội 1999.

9. Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1.Trung tâm biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam, Hà Nội 1995.

10. Nguyễn Như Ý ( chủ biên). Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội 1998

Tác giả : Trần Đình Vũ


Tác giả: Trần Đình Vũ
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết